Slider

Điều trị

Triệu chứng

Nguyên nhân

Phòng tránh

Hậu quả

Hỏi đáp

Đề phòng choáng ngất và đột quỵ trong tập luyện thể thao

Đề phòng choáng ngất và đột quỵ trong tập luyện thể thao


Choáng váng, ngã quỵ và mất ý thức là các ữiệu chứng thường gặp nhất liên quan đến gắng sức. Những ữiệu chứng này có thể báo hước đột quỵ.

Nguyên nhân thường không rõ ràng và kho chuẩn đoán nhưng nhìn chung hay liên quan đén loan nhịp. Leggie Lewis, một siêu sao bóng rổ loạn mạnh có tiền sử bị ngất đã chết vì rung thất do bệnh tim mà các thầy thuốc rất khó chẩn đoán cho dù lia làm hàng loạt các xét nghiệm.

Đề phòng choáng ngất và đột quỵ trong tập luyện thể thao


Vì sao có hiên tương vân đông viên bị ngẩt v,i đôt quỵ?

Vận động viên thể thao tập thể lực với cường độ rất mạnh. Tập luyện làm tăng trương lực giao cảm mạn tính nhưng làm giảm sự điều chỉnh của các thu thể nhạy cảm áp lưc và có thể gây phản xạ thiần kinh tim. Vận động viên đua xe đạp hoặc chạy hiếm hị ngất do ảnh hưởng huyết động hoặc thần kinh thực vật. Chạy marathon có thể bị ngât do mâ't nước hoặc hạ huyết áp trong khi gắng sức kéo dài hay lúc kết thúc chạy. Khi ngừng gắng sức sẽ làm giãn mạch ngoại biên tối đa, cơ bị giãn ra và huyết áp giảm xuống có thể gây ra ngất. Những hiện tựợng này cũng thường gặp do vậy không nên lo lắng và cũng không cần làm bâ"t cứ xét nghiệm gì.

>> Những điểm quan trọng khi chăm sóc bệnh nhân bị bại liệt

Rất ít gặp vận động viên ngất do nguyên nhân lành tính như do tác động tâm lý mạnh, thâm chí khi đã hoạt động gắng sức liên tục và kéo dài. Ngất trong gắng sức thường có xu hướng liên quan đến các nguyên nhân rối loạn nhịp tim ắc tính. Ngất không do tím mạch bao gồm đáp ứng thần kinh với gắng sức, mất nước, tăng thông khí, nghiệm pháp valsalva như trong đẩy tạ và các châ't trung gian lưu hành trong máu (histamin, serotonin). Những thay đổi của ngâ't do thần kinh tím khi gắng sức là qua trung gian thần kinh gây hạ huyết áp và làm nhịp tím chậm. Các thuốc bổ và các thuốc mà vận động viên sử dụng có thể gây ra nhịp nhanh hay rứiịp chậm hoặc rối loạn huyết động. Những thuốc bị cấm lứiư cocain khi sử dụng có thể làm tăng kết quả thi đâu nhưng có thể để lại hậu quả sau này gây ra ngât. Một điều quan ữọng’cần chú ý là phải loại ữừ khả năng bị bệnh động kinh.

Hạn chế nguy cơ đột quỵ với những biện pháp sau

Hạn chế nguy cơ đột quỵ với những biện pháp sau

Không sử dung nước có gas, đồ uống có đường

Các nhà nghiên cứu trường Đại học Loma Linda cũng phát hiện rằng những nam giới đã uống một lượng lớn chất lổng khác ngoài nước lọc tực sự có nguy đột quỵ cao gấp 46% so với những nam giới không sử dụng đồ uống có gas hoặc đường.

Những nghiên cứu cũng cho biết, thức uống có đường, có gas có khả năng làm đông máu.

Hạn chế nguy cơ đột quỵ với những biện pháp sau

Giâm lo lẳng

Tự biết cách điều chế và giảm những stress sẽ giúp hạ thấp nguy cơ đột quỵ của bạn.
Trong một nghiên cứu được công bố  trong tạp chí Stroke, các nhà nghiên cứu ghi nhộn trên 2100 nam giới thấy rằng, những người luôn lo Au sẽ có khả năng bị đột quỵ thiếu máu cục bộ gây lử vong ghé thăm gấp 3 lần so với nam giới không lo nghĩ.

Vì thế bạn hãy kiềm chế tâm trạng của bạn bằng nhiều cách khác nhau sẽ giúp bạn ổn định các mức của serotonin - hỢp chất phân bố rộng trong các mô, đặc biệt trong tiểu cầu máu, thành ruột và hộ thà kinh hoặc các thuốc giải độc dopamin dư thừa.

Bỏ hút thuốc lá

Ngay cả khi bạn đang hút thuốc lá và những người tiếp xúc với khói thuốc của bạn cũng có 82% khả năng bị đột quỵ nhiều hơn những người khô bao giờ hút thuốc hoặc hít phải khói thuốc lá.

Trong thuốc lá có chứa carbon monoxide khuyến khích hình thành cục máu đông bằng cácli can thiệp với nitric oxide làm giãn mạch máu. Vì vậy nói không với thuốc lá râ't có ích cho sức khỏe và những cơn đột quỵ của bạn.

Chế đô ăn uống lành manh

Một chế độ ăn uống lành mạnh với hàm mỡ, cholesterol thâ'p, giàu chất xơ và vitamin, han chế ăn các đồ ăn có nhiều đường giúp giảm nguy cơ đột quỵ rõ rệt.
Nên ăn các thức ăn như rau, củ quả tươi, lương thực phụ (ngô, khoai, sắn...), ăn hoa quả là chính, thường xuyên ăn các thức ăn có nhiều chất vi lượng như canxi, kali, iod, crom, magiê... bởi chúng có tác dụng hạ huyết áp, bảo vệ tim mạch, ngăn chặn các tai biến về động mạch vành, cải thiện dinh dưỡng động mạch não.

>> Huyết áp bình thường có bị đôt quỵ không?

Tâp luyện Aerobic

Tập luyện aerobic giúp bạn vận động chân tay, lưng nhiều hơn khiến cơ thể hấp thu nhiều oxy hơn và giúp máu tuần hoàn nhanh hơn. Các mạch mặu nỏ ra và cân bằng nhiệt cho cơ thể.

Ngoài tác dụng hữu ích của nó với các vấn đề sức khỏe khác, aerobic giúp phòng ngừa chứng đột quỵ - một chứng bệnh hay gặp ở những người bị thiếu máu. BỞi vì tập luyện môn thể thao này giúp máu vận chuyển nhanh hơn, lưu thông đều khắp cơ thể nên chứng đột quỵ sẽ dần dần biến mất. Ngoài ra, khi tập luyện aerobic, bạn sẽ xóa đi những lo lắng phiền muộn.

Tập luyện để phòng ngừa nguy cơ mắc bệnh đột quỵ

Tập luyện để phòng ngừa nguy cơ mắc bệnh đột quỵ


Sau nhiều năm nghiên cứu trên hàng ngàn phụ nữ, người ta đã chứng minh được là nguy cơ bị dột quỵ giảm xuống rõ rệt nếu tập luyện thể lực thường xuyên, tập luyện càng nhiều thì càng giảm nguy cơ bị đột quỵ.

Một nhà khoa học và cộng sự thuộc Trường Đại học Harvard đã nghiên cứu trên 72.488 nữ điều dưỡng viên (y tá) ỏ lứa tuổi từ 40 tới 65. Những phu nữ này tự nguyện tham gia nhóm nghiên cứu, họ vốn không có bệnh tim mạch hoặc ung thư khi mới bắt đầu nghiên cứu.

Tập luyện để phòng ngừa nguy cơ mắc bệnh đột quỵ


Nghiên cứu bắt đầu từ năm 1986, phưttng, pháp nghiên cứu là tìm hiểu thói quen tập luyện thể lực của từng người và theo dõi khả năng bị đôi quỵ. Từ 1986 - 1994, trong số những người linh nguyện tham gia nhóm nghiên cứu, đã cá 407 người bị đột quỵ. Sau khi nghiên cứu chi tiết yếu tố có liên quan đến đột quỵ, các nhà nghiên cứu thấy nguy cơ đột quỵ giảm bớt nhiều nếu tăng cường tập luyện thể dục.

Tập luyện thể lực đơn giản nhất là đi bộ. Người ta thấy đi bộ làm giảm nguy cơ đột quỵ nói chung. Đặc biệt, đi bộ với sải bước dài và nhanh làm giảm nguy cơ đột quỵ nhiều hơn khi đi bộ bằng sải bước chân tự nhiên hay trung bình.

Tập luyện thể lực có tác dụng dự phòng đột quỵ do một số cơ chế. Theo các nhà nghiên cứu, hoạt động thê lực làm giảm huyết áp và làm tăng nồng độ cholesterol chứa lipoprotein tỷ họng thẩp

Nghiên cứu còn cho thấy: Thậm chí những phu nữ vốn có lôì sống ưì trệ và công việc tũih tại lại ít vận động, mãi cho đến khi lớn tuổi mới tích cực tập luyện, thì sau đó nguy cơ đột quỵ cũng giảm hơn so với những phụ nữ vẫn giữ nguyên nếp sinh hoạt trì trệ ít vận động như cũ. Phu nữ lớn tuổi có thể vẫn được khỏe mạnh nhờ vào ích lợi của tập luyện thể lưc, dù hước đó họ vốn có nếp sinh hoạt tữih tại lại ít vận động kéo dài.

>> Những điểm quan trọng khi chăm sóc bệnh nhân bị bại liệt

Nhờ vào nghiên cứu này, người ta đã rút ra kết luận: Phu nữ lớn tuổi có thể phần nào tránh đưỢc nguy cơ bị đột quỵ (kiêu như bị tàn phế do bị liệt nửa người) nhờ tập luyện thể lực thường xuyên ỏ cường độ trung bình.
Các bác sĩ khuyên nên tập luyện thể lực ở mức trung bình, mỗi ngày ít nhâ't 30 phút, nhiều ngày hong một tuần, tốt nhâ't là hàng ngày. Phương pháp tự nhiên đơn giản nhất là đi bộ, tập luyộn tăng dần để đạt tới mức đi bộ nhanh với sải bước chân dài, mỗi ngày 30 phút.

Những điều quan trọng để phòng ngừa chống loét cho người bệnh đột quỵ

Những điều quan trọng để phòng ngừa chống loét cho người bệnh đột quỵ


Chăm sóc đúng cách người bị đột quỵ sẽ giảm nhẹ nguy cơ tử vong, nên lưu ý đến hai yếu tố dinh dưỡng và chống loét.

Đột quỵ là một hội chứng lâm sàng được đặc hưng bỏi sự mất chức năng não cấp tính kéo dài trên 2-4 giờ hoặc có thể sớm dẫn đến tử vong.

Những điều quan trọng để phòng ngừa chống loét cho người bệnh đột quỵ


Đột quỵ bao gồm nhồi máu não (do tắc nghẽn mạch máu não) và xuất huyết não (máu chảy ra tổ chức não). Đột quỵ thường xuất hiện đột ngột với các triệu chứng như đau đầu, buồn nôn, chóng mặt, rô'i loạn tri giác (nặng có thể dẫn đến hôn mê ngay), liệt nửa người, cấm khẩu.

Cho ăn đúng cách

Trước hết, phải cho bệnh nhân nằm ở phòng thoáng mát, đủ ánh sáng, tránh ẩm ướt và tối.
Giường nằm không nên kê sát lường,, nên có khoảng ữống xung quanh để tiện cho  bệnh nhân.

Về dinh dưỡng. Nên cho người bệnh phần tương đương với 3-4 bữa/ngày, mỗi bữa khoảng SOOml.

Thành phần ăn thường có khoai tây, cháo độc, thịt nạc, giá, rau ngót hoặc rau cải cắt xay nhỏ nâu thành súp cho bệnh nhân, có thể cho thêm 1-2 thìa dầu thực vật vào súp. Sau một thời gian có thể cho bệnh nhân tập ăn qua đường miệng.

>> Những triệu chứng đột ngột của bệnh đột quỵ và cách sơ cứu

Với những bệnh nhân đã ăn được thì nên chọn những thức ăn hỢp khẩu vị với người bệnh. Chú ý cho người bệnh ăn từ từ, tránh ép bệnh nhân vì có thể gây nghẹn, sặc rất nguy hiểm.

Những bệnh nhân có thêm bệnh lý tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng mỡ máu thì phải ăn theo chế độ quy định.

Các biện pháp dự phòng để chống lại bệnh đột quỵ (Phần 2)

Các biện pháp dự phòng để chống lại bệnh đột quỵ (Phần 2)

Chống béo phi

ở bệnh nhân béo bụng là nguy cơ lớn nhâ"t của đột quỵ. Về các yếu tố nguy cơ của đột quỵ, nghiên cứu sức khỏe dinh dưỡng đã xác định rằng gia tăng chỉ số khối cơ thể = [trọng lượng (kg)] chia cho [chiều cao (m)]2 nếu > 27kg/ m^ và tăng cân nặng
sau 18 tuối làm tăng các yếu tố nguy cơ của nhồi máu não.

Các biện pháp dự phòng để chống lại bệnh đột quỵ (Phần 2)

Chon thuốc tránh thai có estrogen


Dùng thuốc tránh thai bằng đường uống với lượng estrogen lớn hơn 50mg tăng nguy cơ đột quỵ, với liều thấp dưới 50mg cho thấy không gia tăng nguy cơ đột quỵ.

Chống bênh đái tháo đường


Đái tháo đường và rối loạn dung nạp glucoza là các yếu tố nguy cơ của đột quỵ.

Nghiên cứu ở Praminham đã xác định rằng nguy cơ đột quỵ cao hơn trong những bệnh nhân đái tháo đường so với những bệnh nhân khống đái tháo đường. Khi một bệnh nhân đái tháo đường bị đột quỵ thì hậu quả hiểm nghèo hơn nhiều so với bệnh nhân không bị đái tháo đường. Lý do của hậu quả này là do bệnh nhân bị đái tháo đường có vòng tuần hoàn nghèo nàn.

Phát hiện và điều trị sớm bệnh tim


Các bệnh tim là các yếu tô" nguy cơ đứng hàng thứ hai của đột quỵ sau xơ vữa động mạch bao gồm: Rối loạn nhịp (đặc biệt là rung nhĩ), tổn thương van tim, các tổn thương cơ tim đặc biệt nhồi máu mới, nhồi máu cũ vá bệnh cơ tim.

Các bênh viêm mach


Phối hỢp với các hiện tưỢng tự miễn cần phải tìm nhâ"t là các bệnh gây ra các bất thường miễn dịch như bệnh xoắn khuẩn (Leptospirose), bệnh Lyme, bệnh do Aspergillose, viêm màng não - mạch máu não do giang mai, hoặc do nhiễm Chlamydia pneumoniae, Helicobacter pylori.

Homocysteine (Hcy)


Tăng Hcy máu là các yếu tố nguy cơ của xơ vữa động mạch vành, não, và mạch máu ngoại vi. Các thiếu hụt dinh dưỡng về folat, vitamin B12 và vitamin B6 có thể đây mạnh tăng Hcy máu. Cung cấp folat 1 - 2mg/ngày là đủ để làm giảm Hcy máu.

Tăng Hcy máu toàn phần tương quan với nguy cơ nhồi máu cơ tim và nhồi máu não, đặc biệt những bệnh nhân ở tuổi trung niên.

Tóm lại, phòng tránh bệnh đột quỵ giữ vai trò quan trọng trong việc hạ thấp tỷ lệ tử vong và tình trạng di chứng, cần phát hiện sớm, có biện pháp xử trí kịp thời các ca đột quỵ. Mặt khác phải chú ý đề phòng khả năng tái phát của những trường hỢp đã mắc.

Các biện pháp dự phòng để chống lại bệnh đột quỵ

Các biện pháp dự phòng để chống lại bệnh đột quỵ


Cách tô"t nhất để dự phòng các đột quỵ là chống các yếu tố nguy cơ sau:

Chống tăng huyết áp


Điều ữị tăng huyết áp là giảm biến chứng tim mạch, thận và giảm tỷ lệ tử vong. Áp dụng các biện pháp giảm trọng lượng cơ thể (chống béo phì), ăn nhạt, tập thể dục, dùng thuôc hạ huyết áp đều đặn khi bị tăng huyết áp. Khi đột quỵ đã xảy ra, nguyên tắc chung điều trị huyết áp là không hạ nhanh, trừ phi tăng huyết áp ác tính (huyết áp tâm thu >200mmHg và hoặc huyết áp tâm trương > llOmmHg).

Các biện pháp dự phòng để chống lại bệnh đột quỵ

Cai thuốc lả triêt để


Hút thuốc lá là nguy cơ xơ vữa động mạch, nguy cơ bệnh mạch vành tăng gấp đôi, nhất là những người hút trên 40 điếu mỗi ngày. Nguy cơ đột quỵ cũng dứt hắn sau một vài năm ngừng hút thuốc lá.

Chống tăng cholesterol máu


Huyết khôi gây tắc mạch não cơ chế sinh bệnh
Xít vữa động mạch chưa được hiểu biết hoàn toàn, nhưng tổn thương và hậu quả rô'i loạn chức năng của các tế bào nội mạc mạch máu là rất sớm. Sự giảm cholesterol bằng các thuốc nhóm statin. Có nhiều nghiên cứu lớn đã chỉ ra rằng tăng cholesterol là một các yếu tô" nguy cơ độc lập của đôt quỵ.

Chế đô ăn muối và kali hơp lý


Ăn mặn làm tăng huyết áp. Đối với các nước nhiệt đới, chỉ nên giảm muôi vừa phải do mâ"t muôi qua mổ hôi. Chế độ ăn ít kali làm tăng nguy cơ đột quy do tăng huyết áp. Nên bổ sung kali bằng ăn thêm hoa quả và rau tươi. Mức độ ăn kiêng được khuyến cáo chung là không quá 2,4g naữi mỗi ngày (tương đương 6g muôi ăn natriclorua). Những bệnh nhân tăng huyết áp nếu giảm bớt lượng muối ăn khoảng 40mg/ngày sẽ giảm được nguy cơ tăng huyết áp hoặc biến chứng tim mạch.

Cai rượu


Người ta thấy việc sử dung rưỢu mức trung bình có thể cải thiện sức khỏe một cách thật sự. Tuy nhiên một số người nghiện rưỢu gặp phải những biến chứng nặng là do lạm dụng rượu.

Nghiện rưỢu nặng (sử dụng nhiều hơn 60g/ngày) tăng nguy cơ đột quỵ. sử dụng mức độ trung bình
(12 - 24g/ngày) giảm nguy cơ đột quỵ. sử dụng rượu ít hơn 12g/ngày thì nguy cơ thấp nhất. “lOg rượu tương đương với 330ml bia hoặc lOOml rượu vang hoặc 30ml rưỢu mạnh”.

>> Mức tiêu thụ kali liên quan tới nguy cơ đột quỵ

Tâp thể duc


Tập thể dục làm giảm thấp các các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch. Những người đàn ông thường xuyên hoạt động đủ mạnh đê ướt đẫm mồ hôi là đã giảm 20% nguy cơ đột quỵ. Tập thể dục mức độ trung bình, chang hạn như đi bộ nhanh, đạp xe đạp hoặc bơi lội ít nhâl 30 phút/lần/ngày, 5 ngày/ tuần là hữu ích.

Tập thể dục đều đặn có thể góp phần cải thiện đường máu, giảm tỷ lệ kháng insulin, giảm cân, cải thiện một số thông sô" lipid, hạn chế tiến trển tổn thương xơ vữa động mạch và cải ửiiện huyết áp. Tập thể dục có tác dụng làm giảm huyết áp tâm thu, giảm béo phì. Thể dục làm giảm tỷ lệ nhồi máu cơ tim do đó cũng làm giảm tỷ lệ đột quỵ.

Làm thế nào để đề phòng đột quỵ

Làm thế nào để đề phòng đột quỵ


Đột quỵ là nguyên nhân đứng hàng thứ ba dẫn đến tử vong và là nguyên nhân quan ữọng gây tàn lột ở Mỹ. Mỗi năm có khoảng 600.000 người mắc mới và tái phát đột quỵ, ữong đó có 160.000 người lử vong.

Làm thế nào để đề phòng đột quỵ


Hiện nay việc tổ chức đơn vỊ chốhg đột qụy và điều ữị cấp cứu ngày càng tốt đã giúp bệnh nhân sông sót nhiều hơn và sống lâu hơn, nhưng nếu mức độ tàn phế không giảm thì đó cũng là gánh nặng cho gia đình và xã hội. Vậy làm thế nào dể dự phòng đột quỵ?


Dư phòng khi chưa xẩy ra đôt quỵ


Đột quỵ biến thiên theo thời gian. Buổi sáng nguy cơ đột quỵ cao hơn ữong ngày. Sự thay đổi của huyết áp tương đồng tlieo thời gian đột quỵ cùng với tình trạng tăng độ quárứi máu vào buổi sáng nên dễ dẫn đến đột quỵ. Đột quỵ xảy ra theo mùa, nhiều vào cuối năm, đặc biệt là vào mùa đông.

Đột quỵ thường xảy ra do bệnh tăng huyết áp (chiếm tỷ lệ 80%), xơ vữa động mạch 18-25%, Các bệnh khác (5%). Giữ huyết áp ở mức bình thường,

>> Dầu thực vật giúp phòng chống bệnh đột quỵ

(dưới 140/90mmHg). Chế độ ăn giảm các chất mỡ bão hòa, nên ăn các loại thịt trắng, hạn chế thịt có màu đỏ, cai thuốc lá.

Mức tiêu thụ kali liên quan tới nguy cơ đột quỵ

Mức tiêu thụ kali liên quan tới nguy cơ đột quỵ


Người lớn tuổi không tiêu thu thức ăn giàu châl kali sẽ có nguy cơ đột quỵ cao hơn so với những người khác. Đó là kết quả ban đầu của một cuộc nghiên cứu do các nhà khoa học Mỹ mới tiến hành.

Mức tiêu thụ kali liên quan tới nguy cơ đột quỵ


Sau khi theo dõi hơn 5.600 phụ nữ và đàn ông từ 65 tuổi ữở lên, các nhà khoa học nhận thấy, ở những người tiêu thụ ít kali nhất, nguy cơ đột quỵ trong vòng 4-8 năm sau đó sẽ cao hơn so với những người tiêu thụ nhiều'kali hơn.

Kali là một khoáng chất có trong chuối, sổì cà chua và nước cam. Mức tiêu thụ kali cao được Xiíc định là hơn 4g/ngày, mức thấp lả ít hơn 2,4g/ngảy tương đương một tách sốt cà chua).

>> Vitamin B9 giúp ngăn ngừa chứng đột quỵ và bệnh tim

Dầu thực vật giúp phòng chống bệnh đột quỵ

Dầu thực vật giúp phòng chống bệnh đột quỵ


Một nghiên cứu của Nhật Bản mới được công bố gần đây cho thấy, các loại acid béo ữong dầu thực vật (như dầu ngô, dầu hướng dương và dầu đậu nành) có thể làm giảm nguy cơ đột quỵ, đặc biệt là loại đột quỵ do cục máu đông. Tỷ lệ acid béo trong máu cứ tăng lên 5% thì nguy cơ đột quỵ giảm 28%.

Dầu thực vật giúp phòng chống bệnh đột quỵ


Các rứià khoa học đã đưa ra kết luận ữên sau khi xem xét mẫu máu của hơn 7.000 người ữong độ tuổi từ 40 đến 85. Các nghiên cứu trước đây cũng cho thấy, các acid béo không no ữong dầu thực vật làm giảm hàm lượng cholesterol xấu trong máu và tỏ ra có ích cho tim.

Nước cam giúp ngăn ngừa bệnh đột qụy

 Nước cam giúp ngăn ngừa bệnh đột qụy


Nghiên cứu mới của Phần Lan cho thấy, không dùng đủ vitamin c hong chế độ ăn có thê làm tăng nguy cơ đột quỵ, nhất là ở nam giới có huyết áp cao lioặc bị quá cân. Vitamin này giúp cải thiện chức năng của nội mô (lớp tế bào bên trong mạch máu), ngăn cản sự hình thành các khối máu đông trong dộng mạch và giúp giảm huyết áp.

 Nước cam giúp ngăn ngừa bệnh đột qụy


Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu trôn líơn 2.400 nam giới Phần Lan ỏ độ tuổi 42 - 56. Họ được chia làm 4 nhóm, tùy theo nồng độ vitamm c trong máu. Kết quả cho thấy:

- Nhóm có hàm lượng vitamin c trong máu thấp nhất (dưới 28,4 micromol/lít) có nguy cơ bị đột quỵ cao gấp đôi nhóm có hàm lượng vitamin c cao nhât (trên 64,9 micromol/lít).

- Nguy cơ đột quỵ còn tăng nhiều hơn ở những người bị cao huyết áp hoặc thừa cân.

>> Người bị bụng phệ thường có nguy cơ cao mắc chứng đột quỵ

Theo các nhà khoa học, có sự tương xứng ồ mức vừa phải giữa lượng vitamin c được đưa vào cơ ửrê và hàm lượng vitamin trong máu. Ví dụ, những người thuộc nhóm có ít vitamin c trong máu nhất dùng lượng vitamin tương đương với khoảng 1/2 cốc nước cam mỗi ngày. Nghiên cứu đăng trên tạp chí Đột quỵ số tháng 6 của Mỹ.

Phồng động mạch não - biểu hiện bệnh không thể bỏ qua

Phồng động mạch não - biểu hiện bệnh không thể bỏ qua


Thường biểu hiện ỏ tuổi 30 - 65 và tỷ lệ mắc bệnh ỏ nam và nữ gần như nhau. Không phải tất cả phồng động mạch đều có biêu hiện lâm sàng mà chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ. Phồng động mạch có đường kính nhỏ hơn 5mm không gây ra triệu chứng nhưng phồng động mạch có đường kính từ 3cm có thê bắt đầu gây nên hiệu chứng về áp lực sọ não như một khối phát triển. Khi phồng động mạch giãn rộng thì nguy cơ vỡ mạch sẽ tăng lên. Bệnh nhân phồng động mạch, thường có tiền sử khỏe mạnh và dột lứiiên nhức đầu ghê gớm sau một gắng sức như trong khi giao hỢp, rặn khi đại tiện hoặc hoạt động thể lực mạnh. Đau thường lan ra toàn đầu, nhưng, co lúc đau tăng hơn ỏ vùng châm lan nhanh xuống, co gáy, cứng cổ, có thể lan tới lưng và chi dươi,

Phồng động mạch não - biểu hiện bệnh không thể bỏ qua


Tình trạng đau dữ dội đó kéo dài vài giờ nhưng đau đầu trầm trọng có thể dai dăng tới 3-15 ngày. Bệnh nhân thấy sỢ ánh sáng, vận động mắt đau và thường phải cố gắng giữ yên tĩnh, sỢ làm bât cứ một vận động nhỏ nào. Các hiệu chứng khác kèm theo thường là rối loạn ý thức, kích thích màng não, các rối loạn hệ thần kinh thực vật, các triệu chứng thần kinh khu trú (liệt nửa người) và rối loạn thị giác. Có khoảng 20% bệnh nhân có đau đầu báo hiệu trước vài ngày hoặc vài tuần trước khi vỡ mạch. Các triệu chứng phát sinh do thấm mạch hoặc giãn nở phồng động mạch. Giãn phồng động mạch cảnh trong có thể gây ra sup mí mắt trên do dây thần kinh III và đôi khi ở mắt có thể nhầm triệu chứng này với Migarine thể liệt mắt hoặc trường hỢp liệt dây III do đái tháo đường.

>> Nhận biết những dấu hiệu khởi phát của bệnh đột quỵ não

Ngoài ra, các dị dạng động mạch não là những khuyết tật bẩm sinh bất thường của các huyết quản nối hệ động mạch với tĩnh mạch hay xảy ra ở nam gâp hai lần nữ cũng gây ra những biểu hiện khởi phát đột quỵ não.

Những tín hiệu sớm và khởi phát đột quỵ não, nhất là cảm giác đau đầu xuất hiện ồ thời điểm trước và ngay lúc vừa xảy ra tai biến là kết quả của nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới về dự phòng đột quỵ não. Nhận biết những tín hiệu khởi phát của từng loại tai biến có thể giúp các thầy thuốc đa khoa tuyến y tế cơ sở cũng như người bệnh va gia đình người bệnh, ỏ mức độ nào đó có thế định hướng được loại tai biến sắp và đang ập lới để' nhanh chóng “cướp thời gian” xử trí ban đầu rồi dưa ngay người bệnh tới cơ sở y tế có chuyên khoa hổi sức cấp cứu gần nhất. Lúc này cần có chỉ định thận trọng của bác sĩ về phương thức chuyển vận bệnh nhân để tránh gây hầm họng thêm quá trình diễn biến của bệnh.

Nhận biết những dấu hiệu khởi phát của bệnh đột quỵ não

Nhận biết những dấu hiệu khởi phát của bệnh đột quỵ não


Thời kỳ khỏi phát của tai biến mạch máu não, dau đầu mang tính chất rất kỳ dị, khác hắn với những lần đau đầu thường ngày và thường kèm lliGO những rôl loạn tâm lý mà dân gian mê tín cho là nói gớ .

Đối với tắc mạch máu não, định khu đau đầu Ihường ở chỗ não thường liên quan đến vị trí tắc nghẽn mạch ở khu vực đó. Tiếp sau đau đầu, đột quỵ xuất hiện.

Nhận biết những dấu hiệu khởi phát của bệnh đột quỵ não


Đột quỵ não tiến ưiển qua ba giai đoạn:

- Giai đoạn bùng lên của những yếu tố bệnh lý thuận lợi cho tai biến xuất hiện như: tăng huyết áp, bệnh tim, đái tháo đường, tăng lipid máu.- Quá trình tiến tiển tiếp theo của thiếu máu não tạm thời.

- Nhồi máu não hoàn toàn do tắc nghẽn hoặc chảy máu não. Đau đầu đều có thể xuất hiện trong các giai đoạn này.

Tuy nhiên, đau đầu hiệu chứng còn có thể gặp trong những trường hỢp vữa xơ những động mạch nuôi tổ chức não.

>> Các loại thuốc Tây được sử dụng trong điều trị dự phòng bệnh đột quỵ

Cách xử trí khi bệnh nhân có biểu hiện của chứng phù não

Cách xử trí khi bệnh nhân có biểu hiện của chứng phù não

Quan sát bệnh nhân nếu xuất hiện tình hạng trở ngại ý thức sâu, nhịp tim giảm chậm, hơi thở chậm và huyết áp tăng cao (gọi là phản ứng Cusion), là biểu hiện của chứng phù não nghiêm trọng và chứng tăng áp suất nội sọ, nếu không xử lý kịp thời, bệnh nhân có thể phát sinh sa thùy não. Vì vậy cần phải có phương pháp tích cực để hạ áp suất nội sọ, như tiêm Maimitol.

Cách xử trí khi bệnh nhân có biểu hiện của chứng phù não


- xử lý biến chứng-, chông nhiễm trùng, phòng chống thối loét, duy ữì nước và chất điện giải, cân bằng acid kiềm, chống viêm loét...

- Điều trị phẫu thuật:
  • Xuất huyết tiểu não > lOml;
  • Xuất huyết bề mặt dưới vỏ não;
  • LưỢng xuất huyết ở bán cầu đại não là 30 - 50ml;
  • Đã điều trị nội khoa về sưng máu 1-2 ngày nhưng vẫn chưa thuyên giảm.

Người bị sa não nguy hiểm đến tính mạng nên tiến hành làm phẫu thuật.

+ Thuốc cầm máu; đối với bệnh nhân có xuất huyết não thực sự, không nên sử dụng thuốc cầm máu. Nhưng đôi với xuất huyết buồng não vá xuất huyết dưới khe màng nhện, hiện nay vẫn chưa I’ó kết luận thông nhất về thuốc cầm máu. Có báo cáo cho rằng về thuốc  cầm máu rất có lợi đê cầm máu sau khi xuất huyết và ngừa tái xuất huyết, nhưng thiếu chứng cứ lâm sàng. Theo cách điều trị truyền thống là dùng P-Aminomethilbenzoie acid (PAMBA), Aminomcaproic acid, Tranexamic acid (chất đông máu).

>> Các phương pháp chuẩn đoán bệnh đột quỵ

+ Chọc đốt sống thắt lưng: bệnh nhân xuất huyết khe dưới màng nhện có ữiệu chứng kích thích màng não rõ ràng, có thể chọc dịch não tủy ở đốt sống thắt Itmg 5ml/ngày, để dần dần giảm xuất huyết, nhưng cũng nên thận trọng, bệnh nhân có biểu hiện tăng áp suất nội sọ không nên dùng cách này; trước khi phóng dịch có thể truyền dịch (Mannitol), khi phóng dịch não tủy, tốc độ nên chậm đê’ quan sát tỉ mỉ thể trạng của bệnh nhân.

+ Điều trị khác: căn cứ vào quan sát lâm sàng, u dộng mạch của bệnh nhân xuất huyết khe dưới màng nhện bị phá vỡ sau 3-7 ngày hoặc 2 tuần rất dễ xuất huyết lại, vì vậy nên tránh những hoạt động mạnh, tránh để trạng thái bị kích thích mạnh. Do xuất huyết dưới màng nhện có triệu chứng đau tim rất dữ dội, bệnh nhân nóng nảy, dễ dẫn đột xuất huyết, cũng có thể tiêm bắp Bucinnazine thậm chí là dùng morphin.

Các phương pháp chuẩn đoán bệnh đột quỵ

Các phương pháp chuẩn đoán bệnh đột quỵ


Mây năm gần đây, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, việc chẩn đoán đột quỵ cũng có bước đột phá mới. Dùng CT và MRI để chẩn đoán rối loạn mạch máu não và loại đột quỵ do nghẽn mạch khe.

Các phương pháp chuẩn đoán bệnh đột quỵ

Chẩn đoán qua hình ảnh học

Biểu hiện điển hình qua hình ảnh học của chứng đột quỵ do thiếu máu:

- Biểu hiện qua CT.

- Biểu hiện qua MRI.

- Biểu hiện điển hình của đột quỵ do xuất huyết não.

Do biểu hiện MRI chứng đột quỵ xuất huyết quá chuyên môn, ỏ đây chỉ giới thiệu những biểu hiện đột quỵ CT điền hình.

Biểu hiện CT điển hình xuất huyết não.

Biểu hiện CT điển hình xuất huyết dưới khe màng nhện.
xét nghiệm hấp thu kháng thể Treponema (FTA -ABS), xét nghiệm bệnh có liên quan đến dịch não tủy.

- Đường huyết: có thể phân biệt giảm định hôn mê do tụt đường huyết hoặc hôn mê tăng áp lực thâm thấu không phải do nhiễm độc ketone. Hai loại này cũng có thê’ gây ra mấtt chức năng thần kinh dạng cục bộ, dễ bị ngộ nhận là đột quỵ .

- Xét nghiệm lượng mõ trong máu: có thê’ phát hiện ra nhân tố nguy hiểm của đột quỵ.

- Độ tích tu của tiểu cầu: đối với việc điều trị có ý nghĩa nhất định.

- Xét nghiệm độ nhầy của máu: cũng là căn cứ quan trọng cho việc điều ưị.

>> Các triệu chứng về tinh thần và ngôn ngữ có thể thấy ở người bị đột quỵ

Các xét nghiệm khác

- Kiểm tra điện tâm đồ: Nên tiến hành kiểm tra điện tâm đồ, có thê’ phát hiện ra nhồi máu cơ tim (biến chứng thường thấy của nghẽn mạch máu não) hoặc lứiịp tim thất thường, đê’ xử lý kịp thời: cũng có thê’ phát hiện những rửrân tô" gây ra chứng đột quỵ.

- Kiểm tra sóng siêu âm mạch máu: Kiểm tra sóng siêu âm mạch máu có thê’ phát hiện hẹp hoặc tắc nghẽn động mạch cổ, nhưng độ nhạy của sóng siêu âm thấp hơn so với chụp X-quang mạch
máu. Khi không có thiết bị chụp X-quang hiiy<'l quản hoặc cùng lúc tồn tại những bộnh khác không thể tiến hành chụp X-quang, mới dùng, phương pháp kiểm tra bằng sóng siêu âm. Khi dà siêu âm nội sọ, có thể đánh giá tình trạng của dộng mạch cổ, động mạch đại não hoặc động mạch chủ.

- Kiểm tra chọc đốt sống thắt lưng: Chọc đốt sống thắt lưng để kiểm tra dịch não tủy ở đốt xương sống lưng có rứiuộm máu hay không, nếu có tức là có xuâ"t huyết dưới khe màng nhện, nên tiến hành diều ữị.

- Kiểm ữa điện não đồ: ít dùng điện não đồ (EEG) để kiểm tra và chẩn đoán chứng đột quỵ, nhưng có thể dùng điện não đồ để phân biệt cơn động kinh và cơn thiếu máu cuc bộ tạm thời (TIA)...

Xét nghiêm phóng xa hạt nhân (Nuclein):

Máy tính điện tử photon đơn phân hình chất đồng vị (SPECT): có tác dụng quan trọng trong việc nghiên cứu sự truyền máu vào đại não, nghiên cứu sư phân bố vị trí thiếu máu.

Mấy nằm gần đây, xuất hiện phương pháp chụp positron cắt lớp (PET), càng khiến cho giới y học tăng cường nghiên cứu sự trao đổi chất của đạ não sau đột quỵ.

Các triệu chứng về thể chất có thể xuất hiện trong một cơn đột quỵ

Các triệu chứng về thể chất có thể xuất hiện trong một cơn đột quỵ


Các triệu chứng một cơn đột quỵ hoàn toàn giống nhau vì còn phụ thuộc vào vùng não bị ảnh hưởng.. Trong những điều kiện chung, các triệu chứng đột quỵ có thể phân chia thành ba nhóm dựa trên những tác động liên quan thể chất, tinh thần và ngôn ngữ.

Hiếm bệnh nhân nào cùng một lúc có đủ các triệu chứng liệt kê trong bảng bên dưới, và mức độ nghiêm trọng cũng thay đổi từ nhẹ và thoáng qua cho đến tàn phế nặng và vĩnh viễn.

Các triệu chứng về thể chất có thể xuất hiện trong một cơn đột quỵ

Triệu chứng thể chất


- Hôn mê trong đột quỵ: 60% cơn đột quỵ xảy ra khi người bệnh đang thức. Trạng thái hôn mê thường đi kèm với cơn đột quỵ, nguyên nhân là do xuất huyết não.

- Không kiểm soát được việc tiểu tiện hoặc đại tiện: 90% người bệnh lấy lại được khả năng này sau vài tuần đầu tiên.

- Chóng mặt; không giống với chóng mặt và choáng váng bình thường, mà người bệnh có cảm giác mọi vật xung quanh đang quay cuồng điên đảo hoặc bản thân đang sắp ngã. Thường thấy do nghẽn động mạch hệ thống dây cột sống hoặc xuất huyết tiểu cầu, mà xuất huyết tiểu cầu thường có triệu chứng đau đầu dữ dội và nôn mửa.
- Liệt hoặc bại cơ: 75% người bệnh sẽ bị ảnh hưởng ở một nửa thân người; một số ít hơn, ngoài những người không bị liệt hoàn toàn, sẽ gặp khó khăn trong những vận động cần sự khéo léo, như viết hoặc vẽ.

- Liệt cơ cứng: tình trạng căng cơ ồ phần tứ chi bị ảnh hưởng, mức độ sẽ gia tăng trong vài ngày hoặc tuần đầu tiên sau khi bị đột quỵ và các cơ có thể tự ý máy giật, không thể kiểm soát được. Lúc đó, hiện tượng này tưởng chừng như đáng báo động nhưng sẽ cải ‘thiện dần và cuối cùng có cơ may hồi phục.

- Những động tác máy giật không chủ ý (các hoạt động phản xạ) của một chi bị liệt trong lúc sử dụng phần tay hoặc chân không bị phương hại.

- Đột nhiên phát sinh trở ngại về chuyển động nhãn cầu; nhãn cầu của một hoặc hai mắt chỉ nhìn thấy bên này mà không nhìn thấy bên kia, gọi là chứng ách nhãn cầu, là biểu hiện cầu não bị tổn thương.

>> Nguyên nhân gây đột quỵ do máu bị tắc nghẽn

- Có vấn đề về tầm nhìn.

Sau khi nhãn cầu chuyển động chỉ nhìn thấy được một bên: bên trái hoặc bên phải. Biểu hiện này thường gặp do nghẽn mạch thuỳ châm. Đa số có nguy cơ bán manh (tức là trạng thái mất một nửa tầm nhìn bình thường), trong lâm sàng có liên
quan đến bệnh tật nửa người, mất cảm giác một bôn cơ thể.

- Mất cảm giác ở các vùng thân thể bị ảnh hưởng: khoảng chừng 30% bệnh nhân sẽ bị mất cảm giác nhẹ và, rất hiếm trường hợp, mất hoàn toàn cảm giác ở một chi hoặc một bên người.

- Méo mồm; thông thường chỉ xuất hiện ở phần dưới mặt, nó không ảnh hưởng đến chức năng cơ mặt ở phần trên như nhắm mắt, mỏ mắt, ngẩng mặt,... Chúng ta thường gọi là bại liệt phần mặt có tính trung khu. Hiếm có trường hợp cơ mặt liệt toàn bộ nhưng có một số trường hợp có trở ngại về chức năng tập trung nhãn cầu, đồng thời có trở ngại cảm giác ỏ một bên mặt và bị liệt một bên cơ thể, thường gặp ỏ những bệnh nhân tắc nghẽn cầu não.

- Khó nuốt: động tác nuốt liên quan đến nhiều dây thần kinh và cơ bắp. Khoảng 30% người đột quỵ sẽ lâm vào trường hợp này trong vài ngày đầu tiên.

- Nói khó nghe (loạn vận ngôn)-. do các cơ bị suy yếu hoặc liệt.

- Mất “các phản xạ ngay thẳng”: giúp duy trì trạng thái cân bằng và vung về trong việc phối hợp các chức năng, cả hai điều này ảnh hưởng đến tư thế và chuyển động của người bệnh.

- Mệt mỏi và thiếu ngủ..

Những nhân tố liên quan đến bệnh đột quỵ

Những nhân tố liên quan đến bệnh đột quỵ (Phần 1)

a) Hút thuốc, uống rượu liên quan đến chứng đột quỵ

Hút thuốc là một trong những nguyên tô" nguy hiểm gây ra chứng đột quỵ, đây là kết luận đã đưỢc các nhà khoa học trên thế giới chứng minh. Nhiều nghiên cứu về dịch tễ học trong và ngoài nước cho thây: hút thuốc càng nhiều, thời gian hút thuốc càng dài thì nguy cơ phát bệnh càng lớn. Hút thuốc dẫn đến co thắt mạch máu não, huyết áp dao động, còn ảnh hưởng đến xơ cứng động mạch và sự tích tụ của tiêu cầu, có thể dẫn đến độ nhầy của máu tăng cao, máu chảy chậm, đây là những nhân tố sinh lý, bệnh lý của đột quỵ.

Những nhân tố liên quan đến bệnh đột quỵ


Người nghiện rượu, có nguy cơ phát sinh đột quỵ cao gấp hai lần so với người bình thường . Sau khi uống rượu, nhịp tim gia tăng, huyết áp tăng cao, nếu mạch máu não bị phá hủy tức là sẽ phát sinh “đột quỵ do xuất huyết”. Vì vậy, nghiện rượu cũng là một trong những nhân tố nguy hiểm quan trọng gây ra đột quỵ

b) Mệt mỏi tính thần căng thẳng liên quan đến đột quỵ


Kiệt sức, tinh thần căng thẳng là nguyên nhân gây ra đột quỵ. Ví dụ, làm việc khuya, thường xuyên ngủ không đủ sức, kiệt sức trên đường du lịch... Dẫn đến não bị suy mòn (mỏi mệt), sự tiêu hao về khí oxy và dinh dưỡng gia tăng, đòi hỏi não phải có lưu lượng máu tương ứng; nếu vì một trong những nguyên nhân này mà vòng tuần hoàn máu trong não biến đổi thì dễ gây đột quỵ, đặc biệt đối với bệnh nhân cao huyết áp, bệnh tiểu đường, bệnh mạch vành. Vì thế, người trung nhiên, người già cần phải điều tiết tâm trạng, tránh tâm trạng bị dao động; bất luận trong công việc hay học tập đều cần phải điều chỉnh hợp lý, kết hợp hài hòa giữa nghỉ ngơi và làm việc, tránh để mệt mỏi hoặc kiệt sức.
>> Nguyên nhân gây đột quỵ do máu bị tắc nghẽn

c) Bệnh tim có liên quan đến đột quỵ klìông?


Nhiều loại bệnh tim có thể gây ra đột quỵ. Bệnh tim do thấp khớp, bệnh viêm màng tim hơi cấp tính ... đều có thể là nguồn gốc của sự tắc nghẽn lính không được để huyết áp giảm. Bình thường nếu huyết áp vượt qua 200/100 mmHg mới cần giảm huyết áp.

h) Đột quỵ có tái phát không?


Câu trả lời là có. Vì vậy bác sĩ thường yêu cầu bệnh nhân nên tái khám định kỳ, bác sĩ điều trị quan sát tìm hiểu trạng thái sinh lý, bệnh lý của bệnh nhân, đặc biệt là khống chế các nguyên nhân gây bệnh, căn cứ vào đó để điều chỉnh kê toa thuốc cho hỢp lý. Trên lâm sàng, bệnh nhân bị đột quỵ tái phát 3-4 lần không phải là ít, đặc biệt là những bệnh nhân chưa khống chế được nguyên nhân phát bệnh.

í) Bệnh nhân bị đột quỵ có cần uống thuốc cả đời không?


Hiện nay chứng đột quỵ vẫn chưa có phương pháp điều trị hiệu quả. Nhân tố nguy hiểm và nguyên nhân phát bệnh cũng vô cùng phức tạp, trọng tâm của điều trị bệnh hiện nay là phòng trị. Vì vậy, đa sô" bệnh nhân cần phải dùng thuốc để ngăn ngừa tái phát. Trên lâm sàng những loại thuốc điều trị được công nhận có hiệu quả rất ít, dùng thuốc aspirin có thể phòng ngừa và làm giảm nguy cơ phát bệnh, thuốc chống tích tu tiểu cầu cũng có hiệu quả nhưng rất tốn kém.

Nguyên nhân gây đột quỵ do máu bị tắc nghẽn

Nguyên nhân gây đột quỵ do máu bị tắc nghẽn

Một động mạch có thể bất thần bị nghẽn hoàn toàn hay một phần bỏi một huyết khối {thrombus) hay cục máu đông di chuyển {embotuổ). Huyết khối và một cục máu đông thường hình thành trong một động mạch vốn đã bị hẹp lại do các chất mỡ lắng tụ bên trong (xơ vữa động mạch) làm giảm dòng chảy của máu và có thể dẫn đến đột quỵ.

Nguyên nhân gây đột quỵ do máu bị tắc nghẽn


Còn cục máu đông di chuyên là vật cản trỏ sự lưu thông máu - thường là những cục máu quánh nhỏ bể ra từ một huyết khối rồi di chuyển và bị nghẽn lại tại một động mạch nhỏ ở cổ hoặc não, nhưng cũng có thê là một viên mỡ hay bong bóng khí. Các cục máu đông di chuyển thường hình thành trong tim và trong các động mạch dẫn máu tới não.

Nếu vách cơ tim đã bị tổn hại do một cơn đau tim các cục máu có thê hình thành bên trong và bê vụn thành các cục máu đông di chuyển. Nếu nhịp tim đập bất thường hay yếu, lưu lượng máu chảy trong các bộ phận tim sẽ chậm lại đến nỗi rất dễ hình thành các cục máu đông. TỈ lệ các cục máu hình thành trong vùng tim và rồi sau đó bị cuốn theo dòng chảy của máu dẫn đến não là 50%.

Một số cục máu này quá nhỏ không thể gây nghẽn động mạch sẽ được cuốn trồi đi xa hơn theo đường tuần hoàn máu vào sâu trong não cho đến khi chúng vướng phải một thành động mạch nhỏ hơn, nơi các động mạch phân nhánh (các tiểu động mạch) và đọng lại ồ đó. Khi sự cố này xảy ra, chỉ một vùng nhỏ của não bị ảnh hưởng và sự tổn hại có khi không được quan tâm hoặc bị quy chụp là do gánh nặng tuổi tác hoặc tưởng nhầm là những dấu hiệu đầu tiên của căn bệnh Alzheimer.

Tác nhân gây xuất huyết não


Hầu hết các ca xuất huyết não, thành động mạch bị vỡ ra khi huyết áp tăng đột ngột ồ một vùng vốn đã rất yếu. Ví dụ, thành động mạch đã bị suy yếu vì phải chịu 'đựng lâu bệnh cao áp huyết mà không được điều trị.

Những nguyên nhân gián tiếp


Thủ phạm chính của cả xuất huyết não lẫn máu bị tắc nghẽn thường là do các động mạch bị chai cứng {artenoscterosis) hay chúng xơ vữa động mạch {atherosclerosis), khiến cho những
điều này bỗng nhiên trở thành những nguyên nhân gián tiếp gây ra các cơn đột quỵ Những tác nhân khác khiến hai sự cố này dễ trở thành mối lo còn có thê kê đến là vấn đề tuổi già, yếu tố di truyền, cao áp huyết, bệnh tiểu đường, hút thuốc và béo phì.