Slider

Điều trị

Triệu chứng

Nguyên nhân

Phòng tránh

Hậu quả

Hỏi đáp

Hạn chế nguy cơ đột quỵ với những biện pháp sau

Hạn chế nguy cơ đột quỵ với những biện pháp sau

Không sử dung nước có gas, đồ uống có đường

Các nhà nghiên cứu trường Đại học Loma Linda cũng phát hiện rằng những nam giới đã uống một lượng lớn chất lổng khác ngoài nước lọc tực sự có nguy đột quỵ cao gấp 46% so với những nam giới không sử dụng đồ uống có gas hoặc đường.

Những nghiên cứu cũng cho biết, thức uống có đường, có gas có khả năng làm đông máu.

Hạn chế nguy cơ đột quỵ với những biện pháp sau

Giâm lo lẳng

Tự biết cách điều chế và giảm những stress sẽ giúp hạ thấp nguy cơ đột quỵ của bạn.
Trong một nghiên cứu được công bố  trong tạp chí Stroke, các nhà nghiên cứu ghi nhộn trên 2100 nam giới thấy rằng, những người luôn lo Au sẽ có khả năng bị đột quỵ thiếu máu cục bộ gây lử vong ghé thăm gấp 3 lần so với nam giới không lo nghĩ.

Vì thế bạn hãy kiềm chế tâm trạng của bạn bằng nhiều cách khác nhau sẽ giúp bạn ổn định các mức của serotonin - hỢp chất phân bố rộng trong các mô, đặc biệt trong tiểu cầu máu, thành ruột và hộ thà kinh hoặc các thuốc giải độc dopamin dư thừa.

Bỏ hút thuốc lá

Ngay cả khi bạn đang hút thuốc lá và những người tiếp xúc với khói thuốc của bạn cũng có 82% khả năng bị đột quỵ nhiều hơn những người khô bao giờ hút thuốc hoặc hít phải khói thuốc lá.

Trong thuốc lá có chứa carbon monoxide khuyến khích hình thành cục máu đông bằng cácli can thiệp với nitric oxide làm giãn mạch máu. Vì vậy nói không với thuốc lá râ't có ích cho sức khỏe và những cơn đột quỵ của bạn.

Chế đô ăn uống lành manh

Một chế độ ăn uống lành mạnh với hàm mỡ, cholesterol thâ'p, giàu chất xơ và vitamin, han chế ăn các đồ ăn có nhiều đường giúp giảm nguy cơ đột quỵ rõ rệt.
Nên ăn các thức ăn như rau, củ quả tươi, lương thực phụ (ngô, khoai, sắn...), ăn hoa quả là chính, thường xuyên ăn các thức ăn có nhiều chất vi lượng như canxi, kali, iod, crom, magiê... bởi chúng có tác dụng hạ huyết áp, bảo vệ tim mạch, ngăn chặn các tai biến về động mạch vành, cải thiện dinh dưỡng động mạch não.

>> Huyết áp bình thường có bị đôt quỵ không?

Tâp luyện Aerobic

Tập luyện aerobic giúp bạn vận động chân tay, lưng nhiều hơn khiến cơ thể hấp thu nhiều oxy hơn và giúp máu tuần hoàn nhanh hơn. Các mạch mặu nỏ ra và cân bằng nhiệt cho cơ thể.

Ngoài tác dụng hữu ích của nó với các vấn đề sức khỏe khác, aerobic giúp phòng ngừa chứng đột quỵ - một chứng bệnh hay gặp ở những người bị thiếu máu. BỞi vì tập luyện môn thể thao này giúp máu vận chuyển nhanh hơn, lưu thông đều khắp cơ thể nên chứng đột quỵ sẽ dần dần biến mất. Ngoài ra, khi tập luyện aerobic, bạn sẽ xóa đi những lo lắng phiền muộn.

CHẾ ĐỘ ĂN VÀ DINH DƯỠNG CHO NGƯỜI BỊ ĐỘT QUỴ

CHẾ ĐỘ ĂN VÀ DINH DƯỠNG CHO NGƯỜI BỊ ĐỘT QUỴ


Những người dễ bị đột quỵ nhâ"t là người lớn tuổi; bị tăng huyết áp, tiểu đường, xơ mỡ động mạch, bệnh tim, tăng mỡ (cholesterol) trong máu. Những người thường xuyên hút thuốc lá, nghiện rưỢu; bị béo phì, ít vận động... cũng được xếp vào hàng dễ bị đột quỵ. Do đó, bên cạnh việc điều trị, phục hồi chức năng kịp thời, một chế độ ăn hỢp lý sẽ giúp người bệnh tránh được tai biến nặng hơn, nhanh hồi phục và giảm bớt tiến triển của bệnh.

CHẾ ĐỘ ĂN VÀ DINH DƯỠNG CHO NGƯỜI BỊ ĐỘT QUỴ

1. Các nhu cầu dính dưỡng cần thiết của bênh nhân đôt quỵ:


Nói chung, ăn chuối và các loại rau quả giàu kali có thể giúp hạn chế nguy cơ đột quỵ. Ngoài ru, dùng đủ vitamin c sẽ giúp cải thiện chức năng của nội mô, ngăn chặn sự hình thành khối huyết trong, động mạch.

- LưỢng đạm (protein) cần giữ ở mức 0,8Hg/kg cân nặng/ngày. Nên chọn thực phẩm ít cholescterol
và nhiều đạm thực vật (đậu đỗ, đậu tương, đậu phu) và đạm động vật (cá biển, cá đồng, sữa, thịt nạc...). Nếu bệnh nhân có kèm theo suy thận, cần giảm lượng đạm từ 0,4 đến 0,6g/kg cân nặng/ngày.

- Chất béo nên giữ ỏ mức 25 - 30g chất béo/ngày, trong đó 1/3 là châ't béo động vật và 2/3 là chất béo thực vật như vừng, lạc. Ngoài ra, các loại acid béo trong dầu thực vật có khả năng làm giảm nguy cơ đột quỵ, đặc biệt là do cục máu đông ữong lòng mạch máu não.

- Vitamin và chất khoáng: có trong các loại hoa quả chín, rau củ, sữa. Chúng chứa nhiều kali, có tác dụng lợi tiểu, giảm huyết áp ở người bệnh và chống lại tình trạng toan của cơ thể. Trung bình một quả chuối có 400mg kali, tương đương với 1 ly nước cam hay một củ khoai tây nướng. Người tiêu thu dưới l.SOOmg kali/ngày sẽ có nguy cơ đột quỵ cao hơn 28% so với người tiêu thụ 2.300mg kali/ngày.

Dùng acid folic ít nhất 300mcg mỗi ngày sẽ làm giảm 20% nguy cơ đột quỵ và 13% nguy cơ bệnh tim, so với người dùng dưới 136mcg/ngày. Acid folic có tác dung chống xơ vữa động mạch, giảm huyết áp và hàm lượng cholesterol trong máu. Nó có trong các loại quả có vị chua, rau lá xanh, các loại đậu, gạo, mì và các sản phẩm từ ngũ cốc. Gan cũng chứa nhiều acid này.

2. Chế đô ăn cho người bị đôt quỵ:


Việc xây dựng một chế độ dinh dưõng hợp lý cho bệnh nhân đột quỵ cần tuân thủ các yêu cầu sau:

- Thức ăn phải dễ tiêu hóa, hấp thu và ỏ dạng mềm, lỏng như súp, cháo, sữa. cần phân bố dều 3 -4 bữa/ngày, không nên ăn quá no. Tránh dùng thức ăn lên men, gây kích thích như gia vị cay, nóng,, rưỢu, chè, cà phê...

- Khẩu phần ăn cần giảm muối và nước, do bệnh nhân không bài tiết được nhiều muối và nước vì bị tụ máu ở tĩnh mạch gây phù, chức năng thộn kém. Nếu bệnh nhân suy tim thì lượng nước đưa vào cơ thê’ phải phụ thuộc vào lượng nước tiểu bài tiết trong 24 giờ. Hạn chế muối ồ mức 4 - 5g/ngày đê’ giảm phù, giúp thận bài tiết các chất đào thải của chuyên hóa đạm, chất béo, tinh bột, đường. Tránh các loại thức ăn chế biến sẵn nhiều muối như dưa, cà, hành muối, bánh mì, thịt hun khói, patê, xúc xích...

- Năng lượng trong khẩu phần nên giảm bởt do tránh tăng cân, giảm nhẹ hoạt động cho bộ máy tiOn hóa và tuần hoàn. Mức năng lượng đưa vào cơ thể nên dừng ở 30 - 35 Kcalo/kg cân nặng/ngày. Nguồn năng lượng nên lấy từ rau củ, khoai, đậu đỗ, cơm, mì, bún, miến.

>> Chăm sóc việc đại tiểu tiện cho bệnh nhân bị đột quỵ

3. Những biên pháp táng cường chửa trị bênh đôt quy


- Duy trì tập thể dục vừa phải.

- Ngừng hút thuốc lá vì đây là yếu tô' chủ yếu gây nên các bệnh mạch não. Người hút thuốc nhiều có thể bị đột quỵ dù chỉ ở tuổi trung niên.

- Không dùng rượu mạnh.

- Điều trị tốt bệnh huyết áp cao - nguyên nhân chính gây tai biến mạch máu não.

- Phòng và điều trị bệnh tiểu đường vì đây là tác nhân gây mảng xơ vữa động mạch lớn, tạo cục máu đông ữong lòng mạch, dẫn đến thiếu máu não.

Chăm sóc việc đại tiểu tiện cho bệnh nhân bị đột quỵ

Chăm sóc việc đại tiểu tiện cho bệnh nhân bị đột quỵ


Ở một số bệnh nhân đột quỵ sau khi phát sinh đột quỵ xuất hiện hiện tưỢng đái dầm, không kiểm soái đưỢc; có bệnh nhân không không chế đưỢc đại tiểu tiện là do trung khu đại tiện, tiểu tiện bị tổn thương, hoặc có một sô" bệnh nhân không khống chế được là do tâm lý.

Đôl với những bệnh nhân khống khống chế đưỢc đại tiêu tiện, chúng ta có thể dùng tã lót một lần hoặc chăm sóc kiểu “khai phóng”. Bất luận dùng phương pháp nào đều phải vệ sinh sạch sỏ hậu môn và lỗ tiêu, phòng ngừa phân và nước tểu kich thích



- Tránh ăn uống trên giường, tốt nhất là nên ngồi ăn. Đầu tiên bệnh nhân có thể sử dung ống hút để hút chất lỏng, hút chậm chậm, từng bước tập luyện động tác tư ăn.

- Bệnh nhân không thể ăn uống như người bình thường, chỉ có thể dùng ống đưa thức ăn từ lỗ mũi, dùng băng keo vải cố định ống dẫn thức ăn, phòng ngừa ống dẫn thức ăn đưa vào phế quản làm cho bệnh nhân bị sặc hoặc ngạt thở.

- Thông thường nên thay ống dẫn thức ăn mỗi tuần một lần: ống nhựa silic 4 tuần một lần. Dùng dụng cụ tiêm vào 50ml hoặc 200ml. Nhiệt độ của thức ăn đưa vào mũi nên gần với nhiệt độ của cơ thể; cũng định giờ định lượng, mỗi ngày 2000ml - vào da gây truyền nhiễm, thường xuyên thay khăn trải giường và quần lót cho bệnh nhân.

>> Hiện tượng đau đầu với bệnh nhân bị nhồi máu não

Cần chú ý thu thập tín hiệu muôh đại tiện, tiểu tiện của bệnh nhân, ban đầu cần tập luyện cho bệnh nhân một sô" động tác để biểu thị ý muốn khi cần đại tiểu tiện. Hoặc người chăm sóc tư đặt ra một khẩu hiệu, giống như tập luyện cho trẻ em để luyện tập cho bệnh nhân.

Cần phải kiên nhẫn an ủi, khích lệ bệnh nhân, không tỏ thái độ chán ghét và chản nản trước mặt bệnh nhân, cần tập luyện cho bệnh nhân biết cách phối hợp với người chăm sóc.