Slider

Điều trị

Triệu chứng

Nguyên nhân

Phòng tránh

Hậu quả

Hỏi đáp

Đề phòng choáng ngất và đột quỵ trong tập luyện thể thao

Đề phòng choáng ngất và đột quỵ trong tập luyện thể thao


Choáng váng, ngã quỵ và mất ý thức là các ữiệu chứng thường gặp nhất liên quan đến gắng sức. Những ữiệu chứng này có thể báo hước đột quỵ.

Nguyên nhân thường không rõ ràng và kho chuẩn đoán nhưng nhìn chung hay liên quan đén loan nhịp. Leggie Lewis, một siêu sao bóng rổ loạn mạnh có tiền sử bị ngất đã chết vì rung thất do bệnh tim mà các thầy thuốc rất khó chẩn đoán cho dù lia làm hàng loạt các xét nghiệm.

Đề phòng choáng ngất và đột quỵ trong tập luyện thể thao


Vì sao có hiên tương vân đông viên bị ngẩt v,i đôt quỵ?

Vận động viên thể thao tập thể lực với cường độ rất mạnh. Tập luyện làm tăng trương lực giao cảm mạn tính nhưng làm giảm sự điều chỉnh của các thu thể nhạy cảm áp lưc và có thể gây phản xạ thiần kinh tim. Vận động viên đua xe đạp hoặc chạy hiếm hị ngất do ảnh hưởng huyết động hoặc thần kinh thực vật. Chạy marathon có thể bị ngât do mâ't nước hoặc hạ huyết áp trong khi gắng sức kéo dài hay lúc kết thúc chạy. Khi ngừng gắng sức sẽ làm giãn mạch ngoại biên tối đa, cơ bị giãn ra và huyết áp giảm xuống có thể gây ra ngất. Những hiện tựợng này cũng thường gặp do vậy không nên lo lắng và cũng không cần làm bâ"t cứ xét nghiệm gì.

>> Những điểm quan trọng khi chăm sóc bệnh nhân bị bại liệt

Rất ít gặp vận động viên ngất do nguyên nhân lành tính như do tác động tâm lý mạnh, thâm chí khi đã hoạt động gắng sức liên tục và kéo dài. Ngất trong gắng sức thường có xu hướng liên quan đến các nguyên nhân rối loạn nhịp tim ắc tính. Ngất không do tím mạch bao gồm đáp ứng thần kinh với gắng sức, mất nước, tăng thông khí, nghiệm pháp valsalva như trong đẩy tạ và các châ't trung gian lưu hành trong máu (histamin, serotonin). Những thay đổi của ngâ't do thần kinh tím khi gắng sức là qua trung gian thần kinh gây hạ huyết áp và làm nhịp tím chậm. Các thuốc bổ và các thuốc mà vận động viên sử dụng có thể gây ra nhịp nhanh hay rứiịp chậm hoặc rối loạn huyết động. Những thuốc bị cấm lứiư cocain khi sử dụng có thể làm tăng kết quả thi đâu nhưng có thể để lại hậu quả sau này gây ra ngât. Một điều quan ữọng’cần chú ý là phải loại ữừ khả năng bị bệnh động kinh.

Hạn chế nguy cơ đột quỵ với những biện pháp sau

Hạn chế nguy cơ đột quỵ với những biện pháp sau

Không sử dung nước có gas, đồ uống có đường

Các nhà nghiên cứu trường Đại học Loma Linda cũng phát hiện rằng những nam giới đã uống một lượng lớn chất lổng khác ngoài nước lọc tực sự có nguy đột quỵ cao gấp 46% so với những nam giới không sử dụng đồ uống có gas hoặc đường.

Những nghiên cứu cũng cho biết, thức uống có đường, có gas có khả năng làm đông máu.

Hạn chế nguy cơ đột quỵ với những biện pháp sau

Giâm lo lẳng

Tự biết cách điều chế và giảm những stress sẽ giúp hạ thấp nguy cơ đột quỵ của bạn.
Trong một nghiên cứu được công bố  trong tạp chí Stroke, các nhà nghiên cứu ghi nhộn trên 2100 nam giới thấy rằng, những người luôn lo Au sẽ có khả năng bị đột quỵ thiếu máu cục bộ gây lử vong ghé thăm gấp 3 lần so với nam giới không lo nghĩ.

Vì thế bạn hãy kiềm chế tâm trạng của bạn bằng nhiều cách khác nhau sẽ giúp bạn ổn định các mức của serotonin - hỢp chất phân bố rộng trong các mô, đặc biệt trong tiểu cầu máu, thành ruột và hộ thà kinh hoặc các thuốc giải độc dopamin dư thừa.

Bỏ hút thuốc lá

Ngay cả khi bạn đang hút thuốc lá và những người tiếp xúc với khói thuốc của bạn cũng có 82% khả năng bị đột quỵ nhiều hơn những người khô bao giờ hút thuốc hoặc hít phải khói thuốc lá.

Trong thuốc lá có chứa carbon monoxide khuyến khích hình thành cục máu đông bằng cácli can thiệp với nitric oxide làm giãn mạch máu. Vì vậy nói không với thuốc lá râ't có ích cho sức khỏe và những cơn đột quỵ của bạn.

Chế đô ăn uống lành manh

Một chế độ ăn uống lành mạnh với hàm mỡ, cholesterol thâ'p, giàu chất xơ và vitamin, han chế ăn các đồ ăn có nhiều đường giúp giảm nguy cơ đột quỵ rõ rệt.
Nên ăn các thức ăn như rau, củ quả tươi, lương thực phụ (ngô, khoai, sắn...), ăn hoa quả là chính, thường xuyên ăn các thức ăn có nhiều chất vi lượng như canxi, kali, iod, crom, magiê... bởi chúng có tác dụng hạ huyết áp, bảo vệ tim mạch, ngăn chặn các tai biến về động mạch vành, cải thiện dinh dưỡng động mạch não.

>> Huyết áp bình thường có bị đôt quỵ không?

Tâp luyện Aerobic

Tập luyện aerobic giúp bạn vận động chân tay, lưng nhiều hơn khiến cơ thể hấp thu nhiều oxy hơn và giúp máu tuần hoàn nhanh hơn. Các mạch mặu nỏ ra và cân bằng nhiệt cho cơ thể.

Ngoài tác dụng hữu ích của nó với các vấn đề sức khỏe khác, aerobic giúp phòng ngừa chứng đột quỵ - một chứng bệnh hay gặp ở những người bị thiếu máu. BỞi vì tập luyện môn thể thao này giúp máu vận chuyển nhanh hơn, lưu thông đều khắp cơ thể nên chứng đột quỵ sẽ dần dần biến mất. Ngoài ra, khi tập luyện aerobic, bạn sẽ xóa đi những lo lắng phiền muộn.

Tập luyện để phòng ngừa nguy cơ mắc bệnh đột quỵ

Tập luyện để phòng ngừa nguy cơ mắc bệnh đột quỵ


Sau nhiều năm nghiên cứu trên hàng ngàn phụ nữ, người ta đã chứng minh được là nguy cơ bị dột quỵ giảm xuống rõ rệt nếu tập luyện thể lực thường xuyên, tập luyện càng nhiều thì càng giảm nguy cơ bị đột quỵ.

Một nhà khoa học và cộng sự thuộc Trường Đại học Harvard đã nghiên cứu trên 72.488 nữ điều dưỡng viên (y tá) ỏ lứa tuổi từ 40 tới 65. Những phu nữ này tự nguyện tham gia nhóm nghiên cứu, họ vốn không có bệnh tim mạch hoặc ung thư khi mới bắt đầu nghiên cứu.

Tập luyện để phòng ngừa nguy cơ mắc bệnh đột quỵ


Nghiên cứu bắt đầu từ năm 1986, phưttng, pháp nghiên cứu là tìm hiểu thói quen tập luyện thể lực của từng người và theo dõi khả năng bị đôi quỵ. Từ 1986 - 1994, trong số những người linh nguyện tham gia nhóm nghiên cứu, đã cá 407 người bị đột quỵ. Sau khi nghiên cứu chi tiết yếu tố có liên quan đến đột quỵ, các nhà nghiên cứu thấy nguy cơ đột quỵ giảm bớt nhiều nếu tăng cường tập luyện thể dục.

Tập luyện thể lực đơn giản nhất là đi bộ. Người ta thấy đi bộ làm giảm nguy cơ đột quỵ nói chung. Đặc biệt, đi bộ với sải bước dài và nhanh làm giảm nguy cơ đột quỵ nhiều hơn khi đi bộ bằng sải bước chân tự nhiên hay trung bình.

Tập luyện thể lực có tác dụng dự phòng đột quỵ do một số cơ chế. Theo các nhà nghiên cứu, hoạt động thê lực làm giảm huyết áp và làm tăng nồng độ cholesterol chứa lipoprotein tỷ họng thẩp

Nghiên cứu còn cho thấy: Thậm chí những phu nữ vốn có lôì sống ưì trệ và công việc tũih tại lại ít vận động, mãi cho đến khi lớn tuổi mới tích cực tập luyện, thì sau đó nguy cơ đột quỵ cũng giảm hơn so với những phụ nữ vẫn giữ nguyên nếp sinh hoạt trì trệ ít vận động như cũ. Phu nữ lớn tuổi có thể vẫn được khỏe mạnh nhờ vào ích lợi của tập luyện thể lưc, dù hước đó họ vốn có nếp sinh hoạt tữih tại lại ít vận động kéo dài.

>> Những điểm quan trọng khi chăm sóc bệnh nhân bị bại liệt

Nhờ vào nghiên cứu này, người ta đã rút ra kết luận: Phu nữ lớn tuổi có thể phần nào tránh đưỢc nguy cơ bị đột quỵ (kiêu như bị tàn phế do bị liệt nửa người) nhờ tập luyện thể lực thường xuyên ỏ cường độ trung bình.
Các bác sĩ khuyên nên tập luyện thể lực ở mức trung bình, mỗi ngày ít nhâ't 30 phút, nhiều ngày hong một tuần, tốt nhâ't là hàng ngày. Phương pháp tự nhiên đơn giản nhất là đi bộ, tập luyộn tăng dần để đạt tới mức đi bộ nhanh với sải bước chân dài, mỗi ngày 30 phút.

Những điều quan trọng để phòng ngừa chống loét cho người bệnh đột quỵ

Những điều quan trọng để phòng ngừa chống loét cho người bệnh đột quỵ


Chăm sóc đúng cách người bị đột quỵ sẽ giảm nhẹ nguy cơ tử vong, nên lưu ý đến hai yếu tố dinh dưỡng và chống loét.

Đột quỵ là một hội chứng lâm sàng được đặc hưng bỏi sự mất chức năng não cấp tính kéo dài trên 2-4 giờ hoặc có thể sớm dẫn đến tử vong.

Những điều quan trọng để phòng ngừa chống loét cho người bệnh đột quỵ


Đột quỵ bao gồm nhồi máu não (do tắc nghẽn mạch máu não) và xuất huyết não (máu chảy ra tổ chức não). Đột quỵ thường xuất hiện đột ngột với các triệu chứng như đau đầu, buồn nôn, chóng mặt, rô'i loạn tri giác (nặng có thể dẫn đến hôn mê ngay), liệt nửa người, cấm khẩu.

Cho ăn đúng cách

Trước hết, phải cho bệnh nhân nằm ở phòng thoáng mát, đủ ánh sáng, tránh ẩm ướt và tối.
Giường nằm không nên kê sát lường,, nên có khoảng ữống xung quanh để tiện cho  bệnh nhân.

Về dinh dưỡng. Nên cho người bệnh phần tương đương với 3-4 bữa/ngày, mỗi bữa khoảng SOOml.

Thành phần ăn thường có khoai tây, cháo độc, thịt nạc, giá, rau ngót hoặc rau cải cắt xay nhỏ nâu thành súp cho bệnh nhân, có thể cho thêm 1-2 thìa dầu thực vật vào súp. Sau một thời gian có thể cho bệnh nhân tập ăn qua đường miệng.

>> Những triệu chứng đột ngột của bệnh đột quỵ và cách sơ cứu

Với những bệnh nhân đã ăn được thì nên chọn những thức ăn hỢp khẩu vị với người bệnh. Chú ý cho người bệnh ăn từ từ, tránh ép bệnh nhân vì có thể gây nghẹn, sặc rất nguy hiểm.

Những bệnh nhân có thêm bệnh lý tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng mỡ máu thì phải ăn theo chế độ quy định.

Các biện pháp dự phòng để chống lại bệnh đột quỵ (Phần 2)

Các biện pháp dự phòng để chống lại bệnh đột quỵ (Phần 2)

Chống béo phi

ở bệnh nhân béo bụng là nguy cơ lớn nhâ"t của đột quỵ. Về các yếu tố nguy cơ của đột quỵ, nghiên cứu sức khỏe dinh dưỡng đã xác định rằng gia tăng chỉ số khối cơ thể = [trọng lượng (kg)] chia cho [chiều cao (m)]2 nếu > 27kg/ m^ và tăng cân nặng
sau 18 tuối làm tăng các yếu tố nguy cơ của nhồi máu não.

Các biện pháp dự phòng để chống lại bệnh đột quỵ (Phần 2)

Chon thuốc tránh thai có estrogen


Dùng thuốc tránh thai bằng đường uống với lượng estrogen lớn hơn 50mg tăng nguy cơ đột quỵ, với liều thấp dưới 50mg cho thấy không gia tăng nguy cơ đột quỵ.

Chống bênh đái tháo đường


Đái tháo đường và rối loạn dung nạp glucoza là các yếu tố nguy cơ của đột quỵ.

Nghiên cứu ở Praminham đã xác định rằng nguy cơ đột quỵ cao hơn trong những bệnh nhân đái tháo đường so với những bệnh nhân khống đái tháo đường. Khi một bệnh nhân đái tháo đường bị đột quỵ thì hậu quả hiểm nghèo hơn nhiều so với bệnh nhân không bị đái tháo đường. Lý do của hậu quả này là do bệnh nhân bị đái tháo đường có vòng tuần hoàn nghèo nàn.

Phát hiện và điều trị sớm bệnh tim


Các bệnh tim là các yếu tô" nguy cơ đứng hàng thứ hai của đột quỵ sau xơ vữa động mạch bao gồm: Rối loạn nhịp (đặc biệt là rung nhĩ), tổn thương van tim, các tổn thương cơ tim đặc biệt nhồi máu mới, nhồi máu cũ vá bệnh cơ tim.

Các bênh viêm mach


Phối hỢp với các hiện tưỢng tự miễn cần phải tìm nhâ"t là các bệnh gây ra các bất thường miễn dịch như bệnh xoắn khuẩn (Leptospirose), bệnh Lyme, bệnh do Aspergillose, viêm màng não - mạch máu não do giang mai, hoặc do nhiễm Chlamydia pneumoniae, Helicobacter pylori.

Homocysteine (Hcy)


Tăng Hcy máu là các yếu tố nguy cơ của xơ vữa động mạch vành, não, và mạch máu ngoại vi. Các thiếu hụt dinh dưỡng về folat, vitamin B12 và vitamin B6 có thể đây mạnh tăng Hcy máu. Cung cấp folat 1 - 2mg/ngày là đủ để làm giảm Hcy máu.

Tăng Hcy máu toàn phần tương quan với nguy cơ nhồi máu cơ tim và nhồi máu não, đặc biệt những bệnh nhân ở tuổi trung niên.

Tóm lại, phòng tránh bệnh đột quỵ giữ vai trò quan trọng trong việc hạ thấp tỷ lệ tử vong và tình trạng di chứng, cần phát hiện sớm, có biện pháp xử trí kịp thời các ca đột quỵ. Mặt khác phải chú ý đề phòng khả năng tái phát của những trường hỢp đã mắc.

Các biện pháp dự phòng để chống lại bệnh đột quỵ

Các biện pháp dự phòng để chống lại bệnh đột quỵ


Cách tô"t nhất để dự phòng các đột quỵ là chống các yếu tố nguy cơ sau:

Chống tăng huyết áp


Điều ữị tăng huyết áp là giảm biến chứng tim mạch, thận và giảm tỷ lệ tử vong. Áp dụng các biện pháp giảm trọng lượng cơ thể (chống béo phì), ăn nhạt, tập thể dục, dùng thuôc hạ huyết áp đều đặn khi bị tăng huyết áp. Khi đột quỵ đã xảy ra, nguyên tắc chung điều trị huyết áp là không hạ nhanh, trừ phi tăng huyết áp ác tính (huyết áp tâm thu >200mmHg và hoặc huyết áp tâm trương > llOmmHg).

Các biện pháp dự phòng để chống lại bệnh đột quỵ

Cai thuốc lả triêt để


Hút thuốc lá là nguy cơ xơ vữa động mạch, nguy cơ bệnh mạch vành tăng gấp đôi, nhất là những người hút trên 40 điếu mỗi ngày. Nguy cơ đột quỵ cũng dứt hắn sau một vài năm ngừng hút thuốc lá.

Chống tăng cholesterol máu


Huyết khôi gây tắc mạch não cơ chế sinh bệnh
Xít vữa động mạch chưa được hiểu biết hoàn toàn, nhưng tổn thương và hậu quả rô'i loạn chức năng của các tế bào nội mạc mạch máu là rất sớm. Sự giảm cholesterol bằng các thuốc nhóm statin. Có nhiều nghiên cứu lớn đã chỉ ra rằng tăng cholesterol là một các yếu tô" nguy cơ độc lập của đôt quỵ.

Chế đô ăn muối và kali hơp lý


Ăn mặn làm tăng huyết áp. Đối với các nước nhiệt đới, chỉ nên giảm muôi vừa phải do mâ"t muôi qua mổ hôi. Chế độ ăn ít kali làm tăng nguy cơ đột quy do tăng huyết áp. Nên bổ sung kali bằng ăn thêm hoa quả và rau tươi. Mức độ ăn kiêng được khuyến cáo chung là không quá 2,4g naữi mỗi ngày (tương đương 6g muôi ăn natriclorua). Những bệnh nhân tăng huyết áp nếu giảm bớt lượng muối ăn khoảng 40mg/ngày sẽ giảm được nguy cơ tăng huyết áp hoặc biến chứng tim mạch.

Cai rượu


Người ta thấy việc sử dung rưỢu mức trung bình có thể cải thiện sức khỏe một cách thật sự. Tuy nhiên một số người nghiện rưỢu gặp phải những biến chứng nặng là do lạm dụng rượu.

Nghiện rưỢu nặng (sử dụng nhiều hơn 60g/ngày) tăng nguy cơ đột quỵ. sử dụng mức độ trung bình
(12 - 24g/ngày) giảm nguy cơ đột quỵ. sử dụng rượu ít hơn 12g/ngày thì nguy cơ thấp nhất. “lOg rượu tương đương với 330ml bia hoặc lOOml rượu vang hoặc 30ml rưỢu mạnh”.

>> Mức tiêu thụ kali liên quan tới nguy cơ đột quỵ

Tâp thể duc


Tập thể dục làm giảm thấp các các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch. Những người đàn ông thường xuyên hoạt động đủ mạnh đê ướt đẫm mồ hôi là đã giảm 20% nguy cơ đột quỵ. Tập thể dục mức độ trung bình, chang hạn như đi bộ nhanh, đạp xe đạp hoặc bơi lội ít nhâl 30 phút/lần/ngày, 5 ngày/ tuần là hữu ích.

Tập thể dục đều đặn có thể góp phần cải thiện đường máu, giảm tỷ lệ kháng insulin, giảm cân, cải thiện một số thông sô" lipid, hạn chế tiến trển tổn thương xơ vữa động mạch và cải ửiiện huyết áp. Tập thể dục có tác dụng làm giảm huyết áp tâm thu, giảm béo phì. Thể dục làm giảm tỷ lệ nhồi máu cơ tim do đó cũng làm giảm tỷ lệ đột quỵ.