Slider

Điều trị

Triệu chứng

Nguyên nhân

Phòng tránh

Hậu quả

Hỏi đáp

Đề phòng choáng ngất và đột quỵ trong tập luyện thể thao

Đề phòng choáng ngất và đột quỵ trong tập luyện thể thao


Choáng váng, ngã quỵ và mất ý thức là các ữiệu chứng thường gặp nhất liên quan đến gắng sức. Những ữiệu chứng này có thể báo hước đột quỵ.

Nguyên nhân thường không rõ ràng và kho chuẩn đoán nhưng nhìn chung hay liên quan đén loan nhịp. Leggie Lewis, một siêu sao bóng rổ loạn mạnh có tiền sử bị ngất đã chết vì rung thất do bệnh tim mà các thầy thuốc rất khó chẩn đoán cho dù lia làm hàng loạt các xét nghiệm.

Đề phòng choáng ngất và đột quỵ trong tập luyện thể thao


Vì sao có hiên tương vân đông viên bị ngẩt v,i đôt quỵ?

Vận động viên thể thao tập thể lực với cường độ rất mạnh. Tập luyện làm tăng trương lực giao cảm mạn tính nhưng làm giảm sự điều chỉnh của các thu thể nhạy cảm áp lưc và có thể gây phản xạ thiần kinh tim. Vận động viên đua xe đạp hoặc chạy hiếm hị ngất do ảnh hưởng huyết động hoặc thần kinh thực vật. Chạy marathon có thể bị ngât do mâ't nước hoặc hạ huyết áp trong khi gắng sức kéo dài hay lúc kết thúc chạy. Khi ngừng gắng sức sẽ làm giãn mạch ngoại biên tối đa, cơ bị giãn ra và huyết áp giảm xuống có thể gây ra ngất. Những hiện tựợng này cũng thường gặp do vậy không nên lo lắng và cũng không cần làm bâ"t cứ xét nghiệm gì.

>> Những điểm quan trọng khi chăm sóc bệnh nhân bị bại liệt

Rất ít gặp vận động viên ngất do nguyên nhân lành tính như do tác động tâm lý mạnh, thâm chí khi đã hoạt động gắng sức liên tục và kéo dài. Ngất trong gắng sức thường có xu hướng liên quan đến các nguyên nhân rối loạn nhịp tim ắc tính. Ngất không do tím mạch bao gồm đáp ứng thần kinh với gắng sức, mất nước, tăng thông khí, nghiệm pháp valsalva như trong đẩy tạ và các châ't trung gian lưu hành trong máu (histamin, serotonin). Những thay đổi của ngâ't do thần kinh tím khi gắng sức là qua trung gian thần kinh gây hạ huyết áp và làm nhịp tím chậm. Các thuốc bổ và các thuốc mà vận động viên sử dụng có thể gây ra nhịp nhanh hay rứiịp chậm hoặc rối loạn huyết động. Những thuốc bị cấm lứiư cocain khi sử dụng có thể làm tăng kết quả thi đâu nhưng có thể để lại hậu quả sau này gây ra ngât. Một điều quan ữọng’cần chú ý là phải loại ữừ khả năng bị bệnh động kinh.

Hạn chế nguy cơ đột quỵ với những biện pháp sau

Hạn chế nguy cơ đột quỵ với những biện pháp sau

Không sử dung nước có gas, đồ uống có đường

Các nhà nghiên cứu trường Đại học Loma Linda cũng phát hiện rằng những nam giới đã uống một lượng lớn chất lổng khác ngoài nước lọc tực sự có nguy đột quỵ cao gấp 46% so với những nam giới không sử dụng đồ uống có gas hoặc đường.

Những nghiên cứu cũng cho biết, thức uống có đường, có gas có khả năng làm đông máu.

Hạn chế nguy cơ đột quỵ với những biện pháp sau

Giâm lo lẳng

Tự biết cách điều chế và giảm những stress sẽ giúp hạ thấp nguy cơ đột quỵ của bạn.
Trong một nghiên cứu được công bố  trong tạp chí Stroke, các nhà nghiên cứu ghi nhộn trên 2100 nam giới thấy rằng, những người luôn lo Au sẽ có khả năng bị đột quỵ thiếu máu cục bộ gây lử vong ghé thăm gấp 3 lần so với nam giới không lo nghĩ.

Vì thế bạn hãy kiềm chế tâm trạng của bạn bằng nhiều cách khác nhau sẽ giúp bạn ổn định các mức của serotonin - hỢp chất phân bố rộng trong các mô, đặc biệt trong tiểu cầu máu, thành ruột và hộ thà kinh hoặc các thuốc giải độc dopamin dư thừa.

Bỏ hút thuốc lá

Ngay cả khi bạn đang hút thuốc lá và những người tiếp xúc với khói thuốc của bạn cũng có 82% khả năng bị đột quỵ nhiều hơn những người khô bao giờ hút thuốc hoặc hít phải khói thuốc lá.

Trong thuốc lá có chứa carbon monoxide khuyến khích hình thành cục máu đông bằng cácli can thiệp với nitric oxide làm giãn mạch máu. Vì vậy nói không với thuốc lá râ't có ích cho sức khỏe và những cơn đột quỵ của bạn.

Chế đô ăn uống lành manh

Một chế độ ăn uống lành mạnh với hàm mỡ, cholesterol thâ'p, giàu chất xơ và vitamin, han chế ăn các đồ ăn có nhiều đường giúp giảm nguy cơ đột quỵ rõ rệt.
Nên ăn các thức ăn như rau, củ quả tươi, lương thực phụ (ngô, khoai, sắn...), ăn hoa quả là chính, thường xuyên ăn các thức ăn có nhiều chất vi lượng như canxi, kali, iod, crom, magiê... bởi chúng có tác dụng hạ huyết áp, bảo vệ tim mạch, ngăn chặn các tai biến về động mạch vành, cải thiện dinh dưỡng động mạch não.

>> Huyết áp bình thường có bị đôt quỵ không?

Tâp luyện Aerobic

Tập luyện aerobic giúp bạn vận động chân tay, lưng nhiều hơn khiến cơ thể hấp thu nhiều oxy hơn và giúp máu tuần hoàn nhanh hơn. Các mạch mặu nỏ ra và cân bằng nhiệt cho cơ thể.

Ngoài tác dụng hữu ích của nó với các vấn đề sức khỏe khác, aerobic giúp phòng ngừa chứng đột quỵ - một chứng bệnh hay gặp ở những người bị thiếu máu. BỞi vì tập luyện môn thể thao này giúp máu vận chuyển nhanh hơn, lưu thông đều khắp cơ thể nên chứng đột quỵ sẽ dần dần biến mất. Ngoài ra, khi tập luyện aerobic, bạn sẽ xóa đi những lo lắng phiền muộn.

Người bệnh sau đột quỵ có nên tập luyện với máy tập chạy

Người bệnh sau đột quỵ có nên tập luyện với máy tập chạy


Luyện tập trên máy tập chạy có thể giúp nối lại liên kết giữa các phần của bộ não và qua đó cải thiện đưỢc khả năng đi bộ của bệnh nhân sau cơn đột quỵ, - theo một nghiên cứu mới tại Mỹ.

Nghiên cứu này cũng cho rằng những bài tập trên máy tập chạy có vẻ như tốt hơn bài tập căng, duỗi, một bài tập huyền thống vẫn đưỢc áp dung, cho bệnh nhân sau đột quỵ.

Người bệnh sau đột quỵ có nên tập luyện với máy tập chạy


Các nhà khoa học ồ Trường Đại học Maryland và Trung tâm Y tế Cựu chiến bữứi ỏ Baltimore đã tiến hành so sánh 37 bệnh nhân được áp dụng “liêu pháp tập trên máy tập chạy lặp lại và tăng dần" với 34 bệnh nhân được áp dung bài tập căng duỗi. đây là những bệnh nhân bị liệt nửa người mãn tính sau khi trải qua đột quỵ ít nhất 6 tháng. Những, bệnh nhân này đều đã hoàn thành tất cả các bài tập hồi phục thông thường.

Nhóm thứ nhâ't được yêu cầu thực hiện bài tập chạy trên máy tập chạy ba lần ưong một tuần với tốc độ tương đương với 60% nhịp tim. Bài tập được kéo dài trong 40 phút. Chương hình tập kéo dài trong 6 tháng, thời gian và cường độ tập được tăng dần 2 tuần một lần. Nhóm thứ hai thực hiện bài tập căng duỗi huyền thống cũng đưỢc theo một chương trình tập với thời gian và cường độ tương tư.

Các nhà nghiên cứu đánh giá kết quả theo ba tiêu chí: hoạt động của não qua ảnh chụp cộng hưởng từ; khả năng đi bộ và khả năng thích ứng của cơ thể.

Nhóm thực hiện bài tập chạy trên máy chạy đã cho kết quả tốt hơn trên cả ba tiêu chí này. Đặc biệt có sự khác biệt rất lớn về hoạt động của não giữa hai nhóm. Các ảnh chụp não cho thấy hoạt động của não đã đưỢc tăng cường tới 72% đôl với nhóm thứ nhất trong khi không có sự thay đổi nào ữong não xảy ra ỏ nhóm thưc hiện bài tập căng duỗi truyền thống.

Sau chương trình tập luyện nói hên, các bệnh nhân của cả hai nhóm thực hiện những bài tập uốn gối giống như đang đi bộ. Ánh chụp não cho thấy liệu pháp tập luyện ưên máy tập chạy giúp bệnh nhân sau đột quỵ tăng cường tuần hoàn máu lên khu vực tế bào gốc của não và óc.

Điều này có nghĩa là các tế bào gốc của não đã được tận dụng để tái phục hồi một số phần của vỏ não chịu trách nhiệm thực hiện chức năng di bộ đã bị phá hủy bởi đột quỵ. Kết quả là nhóm tập trên máy tập chạy có khả năng tăng tốc độ đi bộ và sự thích ứng của cơ thể tốt hơn nhóm tập bài tập căng duỗi truyền thống. Điều này đặc biệt quan trọng bởi vì sự bại liệt ồ những bệnh nhân sau đột quỵ có thổ dẫn tối các bệnh về tim mạch và tiểu đường.

Dựa trên các kết quả thu được, nhóm nghiên cứu đã đề nghị đưa các bài tập ữên máy tập chạy vào các chương trình tái phục hồi chức năng vận động cho các bệnh nhân sau đột quỵ.

Theo như lời của Andreas Luft, một trong những người lãnh đạo nghiên cứu thì “Phương pháp này rất có triển vọng vì nó kích thích sự hình thành những mạch thần kinh mới hay kích hoạt các mạch không được sử dung và cải thiện khả năng di bộ của các bệnh nhân sau đột quỵ”, Luft cũng là giáo sư thần kinh học lâm sàng và tái phuc hổi thần kinh ỏ khoa Thần kinh học tại Đại học Zurich, Thụy Sĩ, cho biết. mỗi ngày sẽ cắt giảm nguy cơ đột quỵ 53% so với những người uống ít hơn 3 ly nước/ngày. Nước giúp máu ít có khả năng hình thành sự đông máu.

>> Nhận biết những dấu hiệu khởi phát của bệnh đột quỵ não

Bạn cần phải uống nhiều nước ữong ngày để giữ cho máu của bạn lưu thông trong động mạch tốt hơn. Các chứng minh đã chỉ ra rằng độ ngưng đọng của máu trong các khoảng thời gian khác nhau là khác nhau và thường diễn biến theo quy luật: từ 4 -8 giờ sáng. Đây là khoảng thời gian độ ngưng đọng của máu ồ mức cao nhất, sau đó giảm dần theo thời gian. Vì vậy, uống nước vào mỗi buổi sớm sau khi thức dậy giúp “bôi trơn” các thành động mạch, đánh thức các giác quan, đồng thời ngăn ngừa hiệu quả nguy cơ mắc bệnh xuất huyết não.

CHẾ ĐỘ ĂN VÀ DINH DƯỠNG CHO NGƯỜI BỊ ĐỘT QUỴ

CHẾ ĐỘ ĂN VÀ DINH DƯỠNG CHO NGƯỜI BỊ ĐỘT QUỴ


Những người dễ bị đột quỵ nhâ"t là người lớn tuổi; bị tăng huyết áp, tiểu đường, xơ mỡ động mạch, bệnh tim, tăng mỡ (cholesterol) trong máu. Những người thường xuyên hút thuốc lá, nghiện rưỢu; bị béo phì, ít vận động... cũng được xếp vào hàng dễ bị đột quỵ. Do đó, bên cạnh việc điều trị, phục hồi chức năng kịp thời, một chế độ ăn hỢp lý sẽ giúp người bệnh tránh được tai biến nặng hơn, nhanh hồi phục và giảm bớt tiến triển của bệnh.

CHẾ ĐỘ ĂN VÀ DINH DƯỠNG CHO NGƯỜI BỊ ĐỘT QUỴ

1. Các nhu cầu dính dưỡng cần thiết của bênh nhân đôt quỵ:


Nói chung, ăn chuối và các loại rau quả giàu kali có thể giúp hạn chế nguy cơ đột quỵ. Ngoài ru, dùng đủ vitamin c sẽ giúp cải thiện chức năng của nội mô, ngăn chặn sự hình thành khối huyết trong, động mạch.

- LưỢng đạm (protein) cần giữ ở mức 0,8Hg/kg cân nặng/ngày. Nên chọn thực phẩm ít cholescterol
và nhiều đạm thực vật (đậu đỗ, đậu tương, đậu phu) và đạm động vật (cá biển, cá đồng, sữa, thịt nạc...). Nếu bệnh nhân có kèm theo suy thận, cần giảm lượng đạm từ 0,4 đến 0,6g/kg cân nặng/ngày.

- Chất béo nên giữ ỏ mức 25 - 30g chất béo/ngày, trong đó 1/3 là châ't béo động vật và 2/3 là chất béo thực vật như vừng, lạc. Ngoài ra, các loại acid béo trong dầu thực vật có khả năng làm giảm nguy cơ đột quỵ, đặc biệt là do cục máu đông ữong lòng mạch máu não.

- Vitamin và chất khoáng: có trong các loại hoa quả chín, rau củ, sữa. Chúng chứa nhiều kali, có tác dụng lợi tiểu, giảm huyết áp ở người bệnh và chống lại tình trạng toan của cơ thể. Trung bình một quả chuối có 400mg kali, tương đương với 1 ly nước cam hay một củ khoai tây nướng. Người tiêu thu dưới l.SOOmg kali/ngày sẽ có nguy cơ đột quỵ cao hơn 28% so với người tiêu thụ 2.300mg kali/ngày.

Dùng acid folic ít nhất 300mcg mỗi ngày sẽ làm giảm 20% nguy cơ đột quỵ và 13% nguy cơ bệnh tim, so với người dùng dưới 136mcg/ngày. Acid folic có tác dung chống xơ vữa động mạch, giảm huyết áp và hàm lượng cholesterol trong máu. Nó có trong các loại quả có vị chua, rau lá xanh, các loại đậu, gạo, mì và các sản phẩm từ ngũ cốc. Gan cũng chứa nhiều acid này.

2. Chế đô ăn cho người bị đôt quỵ:


Việc xây dựng một chế độ dinh dưõng hợp lý cho bệnh nhân đột quỵ cần tuân thủ các yêu cầu sau:

- Thức ăn phải dễ tiêu hóa, hấp thu và ỏ dạng mềm, lỏng như súp, cháo, sữa. cần phân bố dều 3 -4 bữa/ngày, không nên ăn quá no. Tránh dùng thức ăn lên men, gây kích thích như gia vị cay, nóng,, rưỢu, chè, cà phê...

- Khẩu phần ăn cần giảm muối và nước, do bệnh nhân không bài tiết được nhiều muối và nước vì bị tụ máu ở tĩnh mạch gây phù, chức năng thộn kém. Nếu bệnh nhân suy tim thì lượng nước đưa vào cơ thê’ phải phụ thuộc vào lượng nước tiểu bài tiết trong 24 giờ. Hạn chế muối ồ mức 4 - 5g/ngày đê’ giảm phù, giúp thận bài tiết các chất đào thải của chuyên hóa đạm, chất béo, tinh bột, đường. Tránh các loại thức ăn chế biến sẵn nhiều muối như dưa, cà, hành muối, bánh mì, thịt hun khói, patê, xúc xích...

- Năng lượng trong khẩu phần nên giảm bởt do tránh tăng cân, giảm nhẹ hoạt động cho bộ máy tiOn hóa và tuần hoàn. Mức năng lượng đưa vào cơ thể nên dừng ở 30 - 35 Kcalo/kg cân nặng/ngày. Nguồn năng lượng nên lấy từ rau củ, khoai, đậu đỗ, cơm, mì, bún, miến.

>> Chăm sóc việc đại tiểu tiện cho bệnh nhân bị đột quỵ

3. Những biên pháp táng cường chửa trị bênh đôt quy


- Duy trì tập thể dục vừa phải.

- Ngừng hút thuốc lá vì đây là yếu tô' chủ yếu gây nên các bệnh mạch não. Người hút thuốc nhiều có thể bị đột quỵ dù chỉ ở tuổi trung niên.

- Không dùng rượu mạnh.

- Điều trị tốt bệnh huyết áp cao - nguyên nhân chính gây tai biến mạch máu não.

- Phòng và điều trị bệnh tiểu đường vì đây là tác nhân gây mảng xơ vữa động mạch lớn, tạo cục máu đông ữong lòng mạch, dẫn đến thiếu máu não.

Chăm sóc việc đại tiểu tiện cho bệnh nhân bị đột quỵ

Chăm sóc việc đại tiểu tiện cho bệnh nhân bị đột quỵ


Ở một số bệnh nhân đột quỵ sau khi phát sinh đột quỵ xuất hiện hiện tưỢng đái dầm, không kiểm soái đưỢc; có bệnh nhân không không chế đưỢc đại tiểu tiện là do trung khu đại tiện, tiểu tiện bị tổn thương, hoặc có một sô" bệnh nhân không khống chế được là do tâm lý.

Đôl với những bệnh nhân khống khống chế đưỢc đại tiêu tiện, chúng ta có thể dùng tã lót một lần hoặc chăm sóc kiểu “khai phóng”. Bất luận dùng phương pháp nào đều phải vệ sinh sạch sỏ hậu môn và lỗ tiêu, phòng ngừa phân và nước tểu kich thích



- Tránh ăn uống trên giường, tốt nhất là nên ngồi ăn. Đầu tiên bệnh nhân có thể sử dung ống hút để hút chất lỏng, hút chậm chậm, từng bước tập luyện động tác tư ăn.

- Bệnh nhân không thể ăn uống như người bình thường, chỉ có thể dùng ống đưa thức ăn từ lỗ mũi, dùng băng keo vải cố định ống dẫn thức ăn, phòng ngừa ống dẫn thức ăn đưa vào phế quản làm cho bệnh nhân bị sặc hoặc ngạt thở.

- Thông thường nên thay ống dẫn thức ăn mỗi tuần một lần: ống nhựa silic 4 tuần một lần. Dùng dụng cụ tiêm vào 50ml hoặc 200ml. Nhiệt độ của thức ăn đưa vào mũi nên gần với nhiệt độ của cơ thể; cũng định giờ định lượng, mỗi ngày 2000ml - vào da gây truyền nhiễm, thường xuyên thay khăn trải giường và quần lót cho bệnh nhân.

>> Hiện tượng đau đầu với bệnh nhân bị nhồi máu não

Cần chú ý thu thập tín hiệu muôh đại tiện, tiểu tiện của bệnh nhân, ban đầu cần tập luyện cho bệnh nhân một sô" động tác để biểu thị ý muốn khi cần đại tiểu tiện. Hoặc người chăm sóc tư đặt ra một khẩu hiệu, giống như tập luyện cho trẻ em để luyện tập cho bệnh nhân.

Cần phải kiên nhẫn an ủi, khích lệ bệnh nhân, không tỏ thái độ chán ghét và chản nản trước mặt bệnh nhân, cần tập luyện cho bệnh nhân biết cách phối hợp với người chăm sóc.

Chăm sóc bệnh nhân đột qụỵ có khó khăn về ăn uống

Chăm sóc bệnh nhân đột qụỵ có khó khăn về ăn uống


Chủ yếu là phòng ngừa bị sặc khi ăn hoặc uống, vì bị sặc có thể gây ngạt thở hoặc viêm phổi.
2500ml; chia tììành 6-7 lần, mỗi lần dưa váo khoản 200 - 300ml. Trong trường hỢp phát sốt, thời tiết nóng bức, ra mồ hôi nhiều, mỗi ngày có thể tăng thêm 500 - lOOOml. Có thể thay đổi thức ăn, càn nắm vững chế độ cân bằng dirửi dưỡng, để bệnh nhân tiêu hóa.

Chăm sóc bệnh nhân đột qụỵ có khó khăn về ăn uống


- Bị sặc. để bệnh nhân nằm nghiêng một bên, vỗ vỗ lưng trái để giúp bệnh nhân sặc ra những thứ đã nuôt vào. Dùng tay trái đỡ vai bệnh nhân, giúp bệnh rửiân giữ tư thế nằm nghiêng, tay phải bắt đầu từ cuối lồng ngưc (phần nhâ't chỗ xương sườn), dùng nắm đấm rỗng từ sau lưng vỗ xéo lên hai bên khoang ngực, dùng lực không nên quá nhẹ.

>> Những điểm quan trọng khi chăm sóc bệnh nhân bị bại liệt


Những điểm cần chú ý khác khi chăm sóc người bệnh đột quỵ

Những điểm cần chú ý khác khi chăm sóc người bệnh đột quỵ


- Phòng tránh bị bỏng, bệnh nhân đột quỵ do bị mất cảm giác, hoặc dọ phản xạ ĩất kém (khi dụng, phải đồ nóng không tránh kịp), sẽ xảy ra bỏng. Vì vậy, cố gắng không sử dụng các vật dụng như bình nước nóng, túi chườm nóng... Nên sử dụng thận họng đồ điện gia dụng.

Những điểm cần chú ý khác khi chăm sóc người bệnh đột quỵ


- Phòng ngừa ứượt ngã: bệnh nhân trong giai đoạn hồi phục sức khỏe, trượt ngã sẽ làm cho khá năng vận động bị giảm sút, còn khiến cho nhân vì sỢ té ngã mà không muốn vận động,. điều này ảnh hưởng Tất lớn đối với bệnh nlìân.

>> Bệnh nhân đột quỵ có thể đi máy bay không

- Giữ cho đại tiểu tiện thông suôt: cho bệnh nhân ăn các tức ăn giàu hàm lượng chất xơ như rau tươi, trái cây... nếu bệrh nhân bị táo bón có thê dùng thuốc nhuận hàng. Nếu bệnh nhân khó khăn trong việc đi lại, tập luyện cho bệnh nhân đại tiêu tiện ỏ trên giường hoặc trên xe lăn; có thể sử dụng tã lót dành cho người lớn. Bệnh nhân có tuyến tiền liệt lớn (tiểu nhiều) có thể đặt ống dẫn tiểu.

Cách chăm sóc để đề phòng loét với bệnh nhân đột quỵ

Cách chăm sóc để đề phòng loét với bệnh nhân đột quỵ


Những bệnh nhân đột quỵ thường phải nằm lâu, nhất là những bệnh nhân hôn mê thì biến chứng râl thường gặp là loét. Thường gặp loét ỏ những, chỗ bị tỳ đè nhiều như vùng cùng cụt, hai gót chân. hai bả vai. Đê’ không có loét thì biện pháp chủ yếu là dư phòng loét vì khi đã có loét thì việc điổii Irị sẽ phức Giường nằm không nên kê sát lường,, nên có khoảng ữống xung quanh để tiện cho  bệnh nhân.

Cách chăm sóc để đề phòng loét với bệnh nhân đột quỵ


Về dinh dưỡng. Nên cho người bệnh phần tương đương với 3-4 bữa/ngày, mỗi bữa khoảng SOOml.

Thành phần ăn thường có khoai tây, cháo độc, thịt nạc, giá, rau ngót hoặc rau cải cắt xay nhỏ nâu thành súp cho bệnh nhân, có thể cho thêm 1-2 thìa dầu thực vật vào súp. Sau một thời gian có thể cho bệnh nhân tập ăn qua đường miệng.

Với những bệnh nhân đã ăn được thì nên chọn những thức ăn hỢp khẩu vị với người bệnh. Chú ý cho người bệnh ăn từ từ, tránh ép bệnh nhân vì có thể gây nghẹn, sặc rất nguy hiểm.

Những bệnh nhân có thêm bệnh lý tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng mỡ máu thì phải ăn theo chế độ quy định.

Những bệnh nhân đột quỵ thường phải nằm lâu, nhất là những bệnh nhân hôn mê thì biến chứng râl thường gặp là loét. Thường gặp loét ỏ những, chỗ bị tỳ đè nhiều như vùng cùng cụt, hai gót chân. hai bả vai. Đê’ không có loét thì biện pháp chủ yếu là dư phòng loét vì khi đã có loét thì việc điổii Irị sẽ phức lạp, khó khăn, thậm chí bệnh nhân có thể tử vong do nhiễm khuẩn huyết hoặc quá suy kiệt.

>> Có thể thay thế thuốc chữa bệnh bằng liệu pháp ăn uống không

Để dự phòng loét có một số biện pháp như: Cho bệnh nhân nằm trên đệm hơi hoặc đệm nước; trăn trở thay đổi điểm tỳ cho bệnh nhân: cứ 2 giờ trở mình cho bệnh nhân một lần (từ nằm ngửa sang nằm nghiêng phải hoặc trái).

Hằng ngày xoa bóp nhẹ nhàng những vùng bị tỳ đè nhiều, tuy nhiên không nên xoa bóp mạnh gây trỢt da. Vận động thu động bên liệt để tránh co cứng cơ và giúp lưu thông tuần hoàn. Giữ gìn vệ sinh các vùng da bị tỳ đè nhiều: hằng ngày 1-2 lần lau bằng khăn mềm, ấm, sau đó lau khô bằng khăn mềm sạch, nhất là sau khi đi đại, tiểu tiện. Khi lau tránh làm xây xát da, không nên bôi mỡ hay rắc bột kháng sinh vì gây hạn chế hô hấp của da và gây ẩm càng dễ loét.

Hằng ngày phải kiểm tra phát hiện sớm các triệu chứng chớm loét như ngứa, đau, thay đổi màu da như đỏ, tím để kịp thời điều trị. Khi phát hiện ra các dấu hiệu chớm loét thì phải kê gối, đệm mềm tại các nơi đó để tránh bị tỳ đè thêm, hoặc có thể dùng thuốc xịt sanyren để tránh loét.

Nếu đã có loét thì việc chăm sóc như sau: thời gian đầu vết loét chưa lan rộng, chưa sâu, có thể là vết trợt da thì hằng ngày 1-2 lần rửa bằng nước muối sinh lý và nước ôxy già, dùng gạc liệt khuẩn thấm khô, sau đó có thể bôi xanhmethilcii rồi dùng. gạc vô khuẩn đắp lại. Tốt hơn có thể chiếu đèn tử ngoại vào vết loét. Nếu vết loét sâu, rộng và co lớ chức hoại tử thì trước hết phải cắt lọc hết lổ chức hoại tử, sau đó đắp gạc có NaCl 10% vá tlìuốc tim, một ngày thay một lần. Hoặc có thể dùng miếng, băng urgosorb. Miếng băng này có tác dụng hút các tổ chức bẩn và hoại tử.

Khi vết loét có dấu hiệu hồi phục, vết loét nông dần, lên các tổ chức hạt thì có thể bôi thêm cao sinh cơ.