Slider

Điều trị

Triệu chứng

Nguyên nhân

Phòng tránh

Hậu quả

Hỏi đáp

Những triệu chứng đột ngột của bệnh đột quỵ và cách sơ cứu

Những triệu chứng đột ngột của bệnh đột quỵ và cách sơ cứu

Các triệu chứng xảy ra đôt ngôt


Đột ngột thấy tê cứng ở mặt, tay hoặc chân - đặc biệt là tê cứng nửa người;

Đột ngột nhìn không rõ (Thị lực giảm sút);

Đột ngột không cử động được chân tay (Mất phối hỢp điều khiển chân tay);

Đột ngột không nói đưỢc hoặc không hiểu dược người khác nói;

Những triệu chứng đột ngột của bệnh đột quỵ và cách sơ cứu


Đầu đau dữ dội.

Phụ nữ có thể có các biểu hiện đặc trưng sau:

Đột ngột đau ở mặt hoặc chân;

Đột ngột bị nấc;

Đột ngột cảm thấy buồn nôn;

Đột ngột cảm thấy mệt;

Đột ngột tức ngực;

Đột ngột khó thở;

Tim đập nhanh bất thường.

Ghi chủ: Chúng tôi nhân mạnh chữ đột ngột để chỉ các triệu chứng xảy ra bất thường trong bệnh đột quỵ , không do các yếu tố bên ngoài.

Những viêc có thê làm trước khi xe cấp cứu tới


Thực hiện hô hấp nhân tạo (CPR), nếu cần phải dùng miệng thổi hơi vào miệng bệnh nhân (hô hâp miệng-miệng)

- Không đưỢc cố di chuyển đầu, cổ bệnh nhân, trong trường hỢp tai nạn, đầu hoặc cổ có thê bị gãy hoặc bị thương. Đẩ bệnh nhân trong tư thế thoải mái. Nới lỏng quần áo.

- Không đưỢc cho bệnh nhân ăn hoặc uống. Tai biến khiến cho người bệnh không thể nuốt và sẽ gây nghẹn.

- Không đưỢc dùng aspirin. Mặc dù aspirin có thể làm giảm cuc máu đông trong trường hỢp tai biến tắc động mạch nhưng cũng có thê gây chảy máu trong nếu là tai biến vỡ mạch máu. Nếu người bệnh đã uống aspirin trong ngày, cần phải báo với bác sĩ cấp cứu.

- Thở sâu. Thở chậm và sâu giúp bệnh nhân bình tĩnh và đưa máu lên não nhiều hơn. Để người bệnh nằm xuống và nói chuyện với người bệnh để họ giữ đưỢc trạng thái bình tinh.

>> Làm gì khi có người thân bị đột quỵ

- Giữ đầu mát và thân ấm. Nếu có đá lạnh, có

thể chấm nhẹ qua đầu người bệnh để giữ mát. Học đá trong khăn để không quá lạnh. Giữ mát dầu để giảm phản ứng phù nề khi tai biến và có thể giúp người bệnh đỡ cảm thấy đau đầu. Giữ thân ấm bằng áo khoác hoặc chăn sẽ giảm được nguy cơ co giật (sốc).

Phòng ngừa

Phòng ngừa cấp 1: Kiểm soát các. yếu tố nguy cơ; điều trị huyết áp, kiểm soát đường huyết, lipid máu; bỏ thuốc lá; dùng thuốc kháng đông trọn đời ở những người bị thấp tim hoặc mang van tim nhân tạo ở bên tim hái. Cân nhắc khả năng dùng thuốc kháng đông ở người bị rung nhĩ mạn tính.

Phòng ngừa cấp 2.‘Tiếp tục kiểm soát các yếu tố nguy cơ. Nếu là tắc mạch máu hoặc rung nhĩ mạn tính, có thể dùng aspirin hoặc warfarin.

Phồng động mạch não - biểu hiện bệnh không thể bỏ qua

Phồng động mạch não - biểu hiện bệnh không thể bỏ qua


Thường biểu hiện ỏ tuổi 30 - 65 và tỷ lệ mắc bệnh ỏ nam và nữ gần như nhau. Không phải tất cả phồng động mạch đều có biêu hiện lâm sàng mà chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ. Phồng động mạch có đường kính nhỏ hơn 5mm không gây ra triệu chứng nhưng phồng động mạch có đường kính từ 3cm có thê bắt đầu gây nên hiệu chứng về áp lực sọ não như một khối phát triển. Khi phồng động mạch giãn rộng thì nguy cơ vỡ mạch sẽ tăng lên. Bệnh nhân phồng động mạch, thường có tiền sử khỏe mạnh và dột lứiiên nhức đầu ghê gớm sau một gắng sức như trong khi giao hỢp, rặn khi đại tiện hoặc hoạt động thể lực mạnh. Đau thường lan ra toàn đầu, nhưng, co lúc đau tăng hơn ỏ vùng châm lan nhanh xuống, co gáy, cứng cổ, có thể lan tới lưng và chi dươi,

Phồng động mạch não - biểu hiện bệnh không thể bỏ qua


Tình trạng đau dữ dội đó kéo dài vài giờ nhưng đau đầu trầm trọng có thể dai dăng tới 3-15 ngày. Bệnh nhân thấy sỢ ánh sáng, vận động mắt đau và thường phải cố gắng giữ yên tĩnh, sỢ làm bât cứ một vận động nhỏ nào. Các hiệu chứng khác kèm theo thường là rối loạn ý thức, kích thích màng não, các rối loạn hệ thần kinh thực vật, các triệu chứng thần kinh khu trú (liệt nửa người) và rối loạn thị giác. Có khoảng 20% bệnh nhân có đau đầu báo hiệu trước vài ngày hoặc vài tuần trước khi vỡ mạch. Các triệu chứng phát sinh do thấm mạch hoặc giãn nở phồng động mạch. Giãn phồng động mạch cảnh trong có thể gây ra sup mí mắt trên do dây thần kinh III và đôi khi ở mắt có thể nhầm triệu chứng này với Migarine thể liệt mắt hoặc trường hỢp liệt dây III do đái tháo đường.

>> Nhận biết những dấu hiệu khởi phát của bệnh đột quỵ não

Ngoài ra, các dị dạng động mạch não là những khuyết tật bẩm sinh bất thường của các huyết quản nối hệ động mạch với tĩnh mạch hay xảy ra ở nam gâp hai lần nữ cũng gây ra những biểu hiện khởi phát đột quỵ não.

Những tín hiệu sớm và khởi phát đột quỵ não, nhất là cảm giác đau đầu xuất hiện ồ thời điểm trước và ngay lúc vừa xảy ra tai biến là kết quả của nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới về dự phòng đột quỵ não. Nhận biết những tín hiệu khởi phát của từng loại tai biến có thể giúp các thầy thuốc đa khoa tuyến y tế cơ sở cũng như người bệnh va gia đình người bệnh, ỏ mức độ nào đó có thế định hướng được loại tai biến sắp và đang ập lới để' nhanh chóng “cướp thời gian” xử trí ban đầu rồi dưa ngay người bệnh tới cơ sở y tế có chuyên khoa hổi sức cấp cứu gần nhất. Lúc này cần có chỉ định thận trọng của bác sĩ về phương thức chuyển vận bệnh nhân để tránh gây hầm họng thêm quá trình diễn biến của bệnh.

Hiện tượng đau đầu với bệnh nhân bị nhồi máu não

Hiện tượng đau đầu với bệnh nhân bị nhồi máu não


ở đây, cơ chế phát sinh đau đầu là do tắc động mạch lớn. Nói chung, đau đầu có đặc điểm là dai dắng hơn trong cơn thiếu máu não tạm thời. Có khoảng từ 50 - 70% nhồi máu não hoàn toàn do tắc vòng tuần hoàn phía sau của não. Đau đầu do tắc động mạch não sau khu trú ỏ vùng quanh một hoặc hai mắt và cũng thường thấy ỏ vùng chẩm.

Hiện tượng đau đầu với bệnh nhân bị nhồi máu não


Đau đầu do huyết khôi động mạch thường khu trú ỏ hai bên vùng chẩm, hiếm thấy ở một bên, lan tỏa ra toàn bộ đầu như vòng đại mũ. Đau đầu ở bệnh nhân huyết khồl động mạch sống, đôi khi dễ nhầm với đau đầu từng chuỗi, đau đầu thường tập ữung xung quanh mắt và ữiệu chứng thần kình khu trú có thể không rõ ràng. Đau đầu như đốt cháy, ép hoặc nhói.

>> Các loại thuốc y học cổ truyền được dùng trong điều trị đột quỵ

Khám bệnh cẩn thận có thể phát hiện được thêm đau đầu ỏ một bên vùng chẩm và các dấu hiệu của nhồi máu tủy bên. Nhồi máu não do tắc động mạch cảnh hay động mạch não giữa gây đau đầu 20 - 30% bệnh nhân, khu ưú ỏ bên tắc quanh ổ mắt và thái dương, có thể kéo dài vài giờ hoặc vài ngày.
Đau đầu ứong chây máu não

Chảy máu dưới màng nhện gây đau đầu đặc biệt dữ dội. Thường chảy máu não do phồng động mạch trong 50% trường hỢp, do dị dạng động tĩnh mạch teong 10%, và 40% do các rối loạn khác như bọc máu tụ trong não, tăng huyết áp hoặc rối loạn dông máu.

Xem thêm tại: https://blogdotquy.blogspot.com/

Nhận biết những dấu hiệu khởi phát của bệnh đột quỵ não

Nhận biết những dấu hiệu khởi phát của bệnh đột quỵ não


Thời kỳ khỏi phát của tai biến mạch máu não, dau đầu mang tính chất rất kỳ dị, khác hắn với những lần đau đầu thường ngày và thường kèm lliGO những rôl loạn tâm lý mà dân gian mê tín cho là nói gớ .

Đối với tắc mạch máu não, định khu đau đầu Ihường ở chỗ não thường liên quan đến vị trí tắc nghẽn mạch ở khu vực đó. Tiếp sau đau đầu, đột quỵ xuất hiện.

Nhận biết những dấu hiệu khởi phát của bệnh đột quỵ não


Đột quỵ não tiến ưiển qua ba giai đoạn:

- Giai đoạn bùng lên của những yếu tố bệnh lý thuận lợi cho tai biến xuất hiện như: tăng huyết áp, bệnh tim, đái tháo đường, tăng lipid máu.- Quá trình tiến tiển tiếp theo của thiếu máu não tạm thời.

- Nhồi máu não hoàn toàn do tắc nghẽn hoặc chảy máu não. Đau đầu đều có thể xuất hiện trong các giai đoạn này.

Tuy nhiên, đau đầu hiệu chứng còn có thể gặp trong những trường hỢp vữa xơ những động mạch nuôi tổ chức não.

>> Các loại thuốc Tây được sử dụng trong điều trị dự phòng bệnh đột quỵ

Các triệu chứng về tinh thần và ngôn ngữ có thể thấy ở người bị đột quỵ

Các triệu chứng về tinh thần và ngôn ngữ có thể thấy ở người bị đột quỵ

1) Triệu chứng tinh thần

- Lú lẫn: hiện tượng này sẽ được cải thiện trong vài ngày đầu tiên.
- Mất trí nhớ về hình ảnh và lời nói (tính hay quên).
- Khó khăn trong việc học tập và lý luận.
- Mất khả năng tập trung và tổ chức.
- Các vấn đề về tâm lý: thoạt tiên là lo lắng, thất vọng và thường dẫn đến ữầm cảm và giận dữ.

Các triệu chứng về tinh thần và ngôn ngữ có thể thấy ở người bị đột quỵ

2) Các rối loạn về ngôn ngữ

Có thể có nhiều rối loạn khác nhau về ngôn ngữ nếu trung tâm não - nơi điều khiển ngôn ngữ - bị ảnh hưởng sau cơn đột quỵ. ở hầu hết mọi người, phần trung tâm này nằm ở bán cầu não bên trái.

Loạn phối hợp từ vận động Ụnotor dysphasia): Rối loạn trong cơ chế vận động tạo ra ngôn ngữ. Người bệnh hiểu rất rõ ngôn ngữ nhưng không thê tự biểu đạt bằng lời nói hay chữ viết cho người khác hiểu.

Loạn phối hợp từ cảm nhận {receptive dỵsphasia): người bệnh có thể nói và viết lưu loát, dễ dàng nhưng chỉ là những điều vô nghĩa hoặc không thích hợp với ngữ cảnh khiến người nghe không hiểu hoặc hiểu sai ý người nói hoặc viết.

Các triệu chứng về thể chất có thể xuất hiện trong một cơn đột quỵ

Các triệu chứng về thể chất có thể xuất hiện trong một cơn đột quỵ


Các triệu chứng một cơn đột quỵ hoàn toàn giống nhau vì còn phụ thuộc vào vùng não bị ảnh hưởng.. Trong những điều kiện chung, các triệu chứng đột quỵ có thể phân chia thành ba nhóm dựa trên những tác động liên quan thể chất, tinh thần và ngôn ngữ.

Hiếm bệnh nhân nào cùng một lúc có đủ các triệu chứng liệt kê trong bảng bên dưới, và mức độ nghiêm trọng cũng thay đổi từ nhẹ và thoáng qua cho đến tàn phế nặng và vĩnh viễn.

Các triệu chứng về thể chất có thể xuất hiện trong một cơn đột quỵ

Triệu chứng thể chất


- Hôn mê trong đột quỵ: 60% cơn đột quỵ xảy ra khi người bệnh đang thức. Trạng thái hôn mê thường đi kèm với cơn đột quỵ, nguyên nhân là do xuất huyết não.

- Không kiểm soát được việc tiểu tiện hoặc đại tiện: 90% người bệnh lấy lại được khả năng này sau vài tuần đầu tiên.

- Chóng mặt; không giống với chóng mặt và choáng váng bình thường, mà người bệnh có cảm giác mọi vật xung quanh đang quay cuồng điên đảo hoặc bản thân đang sắp ngã. Thường thấy do nghẽn động mạch hệ thống dây cột sống hoặc xuất huyết tiểu cầu, mà xuất huyết tiểu cầu thường có triệu chứng đau đầu dữ dội và nôn mửa.
- Liệt hoặc bại cơ: 75% người bệnh sẽ bị ảnh hưởng ở một nửa thân người; một số ít hơn, ngoài những người không bị liệt hoàn toàn, sẽ gặp khó khăn trong những vận động cần sự khéo léo, như viết hoặc vẽ.

- Liệt cơ cứng: tình trạng căng cơ ồ phần tứ chi bị ảnh hưởng, mức độ sẽ gia tăng trong vài ngày hoặc tuần đầu tiên sau khi bị đột quỵ và các cơ có thể tự ý máy giật, không thể kiểm soát được. Lúc đó, hiện tượng này tưởng chừng như đáng báo động nhưng sẽ cải ‘thiện dần và cuối cùng có cơ may hồi phục.

- Những động tác máy giật không chủ ý (các hoạt động phản xạ) của một chi bị liệt trong lúc sử dụng phần tay hoặc chân không bị phương hại.

- Đột nhiên phát sinh trở ngại về chuyển động nhãn cầu; nhãn cầu của một hoặc hai mắt chỉ nhìn thấy bên này mà không nhìn thấy bên kia, gọi là chứng ách nhãn cầu, là biểu hiện cầu não bị tổn thương.

>> Nguyên nhân gây đột quỵ do máu bị tắc nghẽn

- Có vấn đề về tầm nhìn.

Sau khi nhãn cầu chuyển động chỉ nhìn thấy được một bên: bên trái hoặc bên phải. Biểu hiện này thường gặp do nghẽn mạch thuỳ châm. Đa số có nguy cơ bán manh (tức là trạng thái mất một nửa tầm nhìn bình thường), trong lâm sàng có liên
quan đến bệnh tật nửa người, mất cảm giác một bôn cơ thể.

- Mất cảm giác ở các vùng thân thể bị ảnh hưởng: khoảng chừng 30% bệnh nhân sẽ bị mất cảm giác nhẹ và, rất hiếm trường hợp, mất hoàn toàn cảm giác ở một chi hoặc một bên người.

- Méo mồm; thông thường chỉ xuất hiện ở phần dưới mặt, nó không ảnh hưởng đến chức năng cơ mặt ở phần trên như nhắm mắt, mỏ mắt, ngẩng mặt,... Chúng ta thường gọi là bại liệt phần mặt có tính trung khu. Hiếm có trường hợp cơ mặt liệt toàn bộ nhưng có một số trường hợp có trở ngại về chức năng tập trung nhãn cầu, đồng thời có trở ngại cảm giác ỏ một bên mặt và bị liệt một bên cơ thể, thường gặp ỏ những bệnh nhân tắc nghẽn cầu não.

- Khó nuốt: động tác nuốt liên quan đến nhiều dây thần kinh và cơ bắp. Khoảng 30% người đột quỵ sẽ lâm vào trường hợp này trong vài ngày đầu tiên.

- Nói khó nghe (loạn vận ngôn)-. do các cơ bị suy yếu hoặc liệt.

- Mất “các phản xạ ngay thẳng”: giúp duy trì trạng thái cân bằng và vung về trong việc phối hợp các chức năng, cả hai điều này ảnh hưởng đến tư thế và chuyển động của người bệnh.

- Mệt mỏi và thiếu ngủ..